Hãy bảo vệ Tà Đùng để Tây Nguyên thêm xanh và sông Đồng Nai chảy mãi !
Đa dạng thực vật PDF. In Email
Viết bởi Administrator   
Chủ nhật, 10 Tháng 8 2008 23:13

 Tà Đùng là tên dãy núi cao, có đỉnh Tà Đùng cao nhất tỉnh Đăk Nông (1.982m), nằm giữa cao nguyên Đăk Nông và cao nguyên Di Linh, thuộc vùng địa lý sinh học Nam Trung Bộ. Tà Đùng không chỉ là điểm giao thoa về địa lý và sinh học giữa khu vực Nam Tây Nguyên và khu vực Đông Nam Bộ; mà Tà Đùng còn là thượng nguồn của 2 hệ thống sông là Ea Krông Nô ở phíá Bắc (cùng với các sông chi nhánh khác ở thượng nguồn, hợp nước rồi chảy về sông Sêrêpốk) và sông Đồng Nai ở phía Nam, nơi có các nhà máy thủy điện Đồng Nai 3, 4 đang hoạt động tạo ra những hồ nước trên cao có diện tích khoảng 3.620ha mặt nước và hình thành nên 36 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có một số đảo của khu bảo tồn, có diện tích khá lớn thuận lợi cho phát triển du lịch sinh thái trên đảo.

          Nhiều báo cáo đã ca ngợi “Tà Đùng với diện tích 21.307 ha, trong đó 86,7% là diện tích rừng nuyên sinh”. “Trong rừng Tà Đùng có nhiều loài gỗ rất quý như Dầu dó, Xá xị, Giổi, Giáng hương... Đặc biệt có nhiều loài lan đặc hữu của Việt Nam”, “nhiều loài cây quý được sử dụng làm thuốc trong y học cổ truyền..”. Đây cũng là khu vực có trên 1.000 loài thực vật sinh sống, đây cũng là nơi lý tưởng cho các loại hình du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, leo núi cho du khách. (Nguồn “Dự án du lịch sinh thái Tà Đùng”). 

            Nhằm mục đích đánh giá lại hiện trạng tài nguyên thực vật phục vụ cho các dự án phát triển KBT và làm cơ sở đề xuất các giải pháp cho công tác bảo vệ phục hồi rừng, trồng rừng, bảo tồn các loai cây và con quý hiếm, bảo vệ, tôn tạo những cảnh quan tự nhiên trong KBT, chúng tôi đã tiến hành thực hiện chuyên đề: “Điều tra, đánh giá những đặc điểm cơ bản của tài nguyên thực vật KBT thiên nhiên Tà Đùng, tỉnh Đắk Nông

 

3.1. Các hệ sinh thái chính của KBTTN Tà Đùng

 

Trong sinh cảnh của KBT Tà Đùng không thể thống kê và nghiên cứu hết các hệ sinh thái chứa đựng trong nó bởi tính luôn biến động theo không gian và thời gian của các hệ sinh thái. Một hệ sinh thái thường không có giới hạn về kích thước, một hệ sinh thái nhỏ hơn lại ở trong một hệ sinh thái lớn hơn, cũng như một xóm lớn nhưng lại ở trong một thôn, một thôn lại ở trong một xã, một xã ở trong một huyện… Một số hệ sinh thái lớn thường nhìn thấy rõ ở Khu BTTN.

 

 

 

3.1.1. Hệ sinh thái rừng của khu BTTN Tà Đùng

 

Đặc điểm chung

 

Trong Khu BTTN, Hệ sinh thái rừng là hệ sinh thái chủ đạo, có diện tích lớn nhất và có phân bố rộng trong VQG. Hệ sinh thái rừngở đây không còn đồng nhất, nguyên vẹn vì những diện tích rừng thuận lợi đã bị khai thác chọn thô các loài gỗ tốt hay khai thác tỉa các loài gỗ quý. Còn trên toàn bộ diện tích rừng của khu bảo tồn, những loại  LSNG giá trị đã bị người dân khai thác. Hệ sinh thái rừng không chỉ tạo lên cảnh quan, môi trường rừng của Khu nghiên cứu mà còn chi phối sự phát triển của các hệ sinh thái khác trong khu vực. Kết quả điều tra cho thấy hệ sinh thái rừng Tà Đùng có 2 kiểu rừng chính: Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới phân bố ở độ dưới cao 1.000m và Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp phân bố ở độ cao từ 1.000m trở lên. Ở độ cao dưới 1000m, nhiều diện tích rừng đã bị chuyển đổi mục đích sang Cà phê. Ở đây hết rừng nhiêt đới nguyên sinh, chỉ còn rừng thứ sinh nghèo  phục hồi sau khai thác, nương rãy, lửa rừng … Kết quả điều tra chung về kích thước, chất lượng cây rừng năm 2012 tóm tắt tại Biểu 6:

 

Biểu 6. Một số đặc điểm chung của hệ sinh thái của Khu BTTN

 

1

Đường kính trung bình của tầng cây gỗ trên toàn rừng

21.00 cm

8

Mật độ cây gỗ tái sinh của toàn rừng

5246

cây / Ha

2

Chiều cao trung bình của tầng cây gỗ của toàn rừng

13.86 m

9

Tỷ lệ cây tái có sinh trưởng tôt

56.12 %

3

Chiều cao dưới cành  trung bình của tầng cây gỗ của toàn rừng

9.85 m

10

Tỷ lệ cây tái sinh có nguồn gốc tái sinh bằng hạt của các loài cây gỗ lớn trong rừng

56.01 %

4

Đường kính tán cây gỗ  trung bình của tầng cây gỗ trên toàn rừng

3.14 m

11

Tỷ lệ cây tái sinh có thể trở thành cây gỗ lớn trong rừng (D>6cm)

48.88 %

5

Mật độ cây gỗ của toàn rừng

768 cây/ Ha

12

Độ che phủ của tầng cây bụi thảm tươi trên đất rừng KBT

0,43

(43 %)

6

Độ tán che của tầng cây gỗ trên toàn rừng

0.78

13

Độ che phủ của tầng cành lá khô và thảm mục trên toàn rừng

0.91  (91%)

7

Mật độ cây Lồ ô+Nứa trong rừng gỗ xen Lồ ô hay Lồ Ô xen gỗ của toàn rừng

4000-6000 Cây/Ha

14

Chiều cao tầng thảm tươi, cây bụi trên đất rừng

 

 

Từ kết quả điều tra tuyến và ô tiêu chuẩn, rút ra những đặc điểm chung của rừng Tà Đùng như sau:

 

+ Hệ sinh thái rừng là hệ sinh thái chủ đạo.

 

Có nhiều hệ sinh thái tự nhiên trong Khu BTTN nhưng hệ sinh thái rừng luôn giữ vai trò chủ đao là do: Có diện tích lớn nhất, chiếm tới 80% diện tích khu bảo tồn và có phân bố rộng nhất trong Khu BTTN. Có 95% sinh vật cuả khu bảo tồn đều thuộc hệ sinh thái rừng và sống trong rừng. Môi trường sinh thái rừng Tà Đùng đã và đang chi phối môi trường các vùng xung quanh khu bảo tồn đồng thời hệ sinh thái rừng còn chứa đựng việ tà chi phối tất cả các hệ sinh thái khác có trong Khu BTTN.

 

+ Độ tàn che của rừng cao.

 

Ở đây muốn đề cập đến độ tàn che của tán rừng. Tuy rừng có bị lấn chiếm nhưng tỷ lệ đất có rừng rất cao (80%), tuy không đồng nhất về phẩm chất nhưng qua số liệu điều tra thấy rằng, phần lớn diện tích rừng ở đây có kết cấu tầng cây lớn với 2-3 tầng phụ. Rừng đang phục hồi, phát trển tốt, độ tàn che cao, thường từ 0,6 tới 0,9.

 

+ Không còn rừng nhiêt đới nguyên sinh nguyên vẹn.

 

Rừng nhiệt đới có phân bố ở độ cao dưới 1000m. Tất cả diện tích rừng này đều đã trải qua khai thác chọn thô những loài gỗ tốt phục vụ xây dựng và dân sinh kinh tế từ thời kỳ lâm trường Đắk Plao còn hoạt động. Đến nay, diện tích rừng này đang ở trạng thái rừng thứ sinh nghèo hoặc trung bình phục hồi sau khai thác hay nương rãy, lửa rừng.

 

+ Rừng nguyên sinh á nhiêt đới núi thấp còn khá nhiều.

 

Rừng nguyên sinh á nhiêt đới núi thấp ở độ cao trên 1000m, một số diên tích đã qua một lần khai thác chọn đến nay đã phục hồi, còn tuyệt đại diện tích chưa bị khai thác gỗ, thường bị người dân khai thác LSNG quý.  Rừng nguyên sinh á nhiêt đới núi thấp khá nguyên vẹn về kết cấu, phân bô khá tập trung, thành vùng lớn ở quanh các đỉnh cao trên dãy núi Tà Đùng.

 

+ Thực vật rừng trong khu bảo tồn phong phú về thành phần loài.

 

Tuy phong phú về thành phần loài nhưng nhưng kích thức trung bình của các loài đã giảm. Nhiều loài cây gỗ quí không chỉ giảm về số lượng cá thể mà kích thước trung bình cũng bị giảm nhiều. Vùng thấp dưới 1000m trong rừng đã xuất hiện nhiều loài cây ưa sáng như Kháo cuống đỏ, Dạ nâu, Mò lá tròn, Thôi chanh, Thôi ba, Thành ngạnh, thẩu tấu, Hoắc quang, Bồ đề, Tô hạp, Lộc mại, Sừng hươu, Cọc rào, Màng tang, Chè đuôi lươn, Vỏ rụt, Ba soi, Bui bui, cà muối, Đa, Si, Sanh, Xoan ta, Đáng … và nhiều loài cỏ như : Cỏ lào, Đơn buốt, Cỏ tranh, Cỏ chít, Cỏ lá, Cỏ lông, Cỏ rác, Cỏ quăn … Những loài này tăng vụt về số lượng cá thể trong loài đã làm biến đổi diện mạo thảm thực vật rừng trong khu vực.

 

  + Có nhiều họ thực vật điển hình cho khu hệ thực vật nhiệt đới Việt Nam có nguồn gốc tại chỗ với các đại diện chính như: Họ Dâu tằm (Moraceae), Họ Ba mảnh vỏ (Euphorbiaceae), Họ Cà phê (Rubiaceae), Họ Đậu (Fabaceae), Họ Cơm vàng (Proteaceae), Họ Xoan (Meliaceae), Họ Ráy (Arecaceae), Họ bàng (Combretaceae)

 

Nhiều họ thực vật điển hình có nguồn gốc di cư từ các hệ thực vật lân cận xâm nhập vào : từ Malaysia-Indonesia, từ Hymalaya - Vân Nam - Quý Châu, ấn độ-Miến điện di vào rồi định cư ở VN với các đại diện chính như các loài của họ Dầu (Dipterocarpaceae), Họ Tử vi (Lythraceae), Họ Gạo (Bombacaceae), Họ Hoa hồng (Rosaceae), Họ Dẻ (Fagaceae), Họ Re (Lauraceae), Họ Trúc đào (Apocynaceae), Họ Chè (Theaceae), Họ ngọc lan (Magnoliaceae), Họ Hồ đào (Juglandaceae), Đỗ quyên (Ericaceae), Thích (Aceraceae), Họ Ban (Hypericaceae), Sau sau (Altingiaceae).. các loài điển hình như: Dầu nước, Táu mật, Sồi bán cầu, Dẻ gai, Dẻ cau, Chẹo tía, Xá Xị, Giổi mỡ, Giổi bà, Giổi Xanh, Giổi găng, Thích lá xẻ, Thích lá bóng, Vối thuốc, Tô hạp,  Xoan đào, Máu chó, Súm, Chè rừng..... Thông nàng, Thông ba lá.

 

+ Các loài cây lá kim phân bố ít ở Tà Đùng.

 

Thực vật lá kim có đại diện là các loài Thông Ba lá (Pinaceae), Thông tre, Thông nàng (Podocarpaceae), Dây gắm, Rau bép (Gretaceae). Loài phát triển và sinh trưởng mạnh nhất ở đây là Thông nàng nhờ khả năng chịu bóng của cây con để tồn tại. Loài Thông ba lá có phân bố thành quần thể nhưng sự phát triển của chúng không ổn định. Khoảng trống trong rừng và trạng thái đất trống không có cây gỗ tái sinh là điều kiện tốt cho thông ba lá phục hồi và tồn tại  nhưng luôn bị các loài cây lá rộng xâm lấn. Trong quá trình điều tra chúng tôi nhận thấy ở những mảng rừng có Thông ba lá hỗn giao với cây lá rộng, nơi những cây Thông ba lá già cỗi bị chết hay gió làm đổ gẫy, không thấy thế hệ Thông ba lá tiếp theo thế chỗ, thế chỗ cây chết là các loài cây lá rông. Những khu rừng Thông ba lá thuần loài có diện tích nhỏ, nằm sát với rừng cây lá rộng cũng luôn bị cây lá rộng lấn dần dần về diện tích.

 

Diện tích và chất lượng rừng Tà Đùng vẫn đang bị suy giảm.

 

 Trên thực tế các loài cây gỗ quý nổi tiếng có giá trị sử dụng cao như: Lát hoa Xá Xị, Dầu gió, Dầu gió xanh (Giổi xanh), Dầu gió vàng (Gổi găng), Giổi Bà, Dáng hương, Cảm lai,  …. nhiều loài cây thuốc quý như Vàng Đắng, Bình Vôi, Hoàng đằng, Đẳng Sâm, Các loài lan qúy như Hài gấm, Hài lông, Thạch hộc, Lan Hương, Lan một lá, Thanh đạm, Kim Tuyến, Thủy tiên  v.v. .vẫn thường xuyên bị khai thác trộm. Những nương cà phê, nương sắn vẫn ngày đêm âm thầm hay công khai xâm lán diện tích vùng xung quanh khu bảo tồn mà trọng điểm lớn nhất là vùng giáp danh với  huyện Lâm Hà, Đam Rông tỉnh Lâm Đồng của KBT.  Đặc biêt  những chương trình bảo tồn, trồng và phát triển các loài cây quý hiếm để giữ dìn bảo vẹ loài chưa có cũng là nguyên nhân làm trầm trọng hơn sự suy giảm.

 

+ Giá trị kinh tế-môi trường của hệ sinh thái rừng đang bị giảm.

 

Đặc biệt là giá trị về lâm sản ngoài gỗ và khả năng phòng hộ, giữ đất, giữ nước của rừng đã bị giảm nhiều. Xuất hiện nhiều vùng khô hạn, úng ngập, nhiều trận lũ ống, lũ quét, sau mưa xảy ra ngay trong và xung quanh khu bảo tôn mà trước đây không có.

 

+ Hệ sinh thái rừng Tà Đùng có 2 kiểu rừng chính với nhiều kiểu phụ

 

Kiểu chính 1: Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới (phân bố ở độ cao dưới 1.000m).

 

Theo tiêu chí phân loại rừng trong TT 34, Kiểu rừng này không còn rừng nguyên sinh, chỉ còn toàn rừng thứ sinh với  5 kiểu phụ:

 

+ kf1   Rừng nhiệt đới thứ sinh, chưa có trữ lượng, phục hồi sau nương rãy, lửa rừng. (Trạng thái IIA, IIB theo phân loại cũ)

 

+ kf2  Rừng nhiệt đới thứ sinh nghèo phục hồi sau khai thác chọn kiệt (Trạng thái IIIA1 cũ)

 

+ kf3  Rừng nhiệt đới thứ sinh nghèo, gỗ xen tre nứa hay Tre nứa xen gỗ, phục hồi sau nương rãy, lửa rừng.

 

+ kf4  Rừng tre nứa nhiệt đới thứ sinh, trữ lượng trung bình, phục hồi sau nương rãy, lửa rừng.

 

+ kf5   Đất chưa có rừng

 

Kiểu chính 2: Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp (phân bố ở độ cao từ 1000m -1982m).

 

Theo tiêu chí phân loại rừng trong TT 34, Kiểu chính này có 3 kiểu phụ với 5 kiểu phụ nhỏ:

 

* kf6.  Kiểu phụ 6: Rừng kín th­ường xanh mưa ẩm cây lá rộng á nhiệt đới núi thấp. Kiểu phụ này có 3 kiểu phụ nhỏ (Kí hiệu kf6a, kf6b, kf6c):

 

- kf6a : Rừng nguyên sinh cây lá rộng á nhiệt đới núi thấp (IIIA2, IIIA3, IVA cũ).

 

- kf6b : Rừng thứ sinh cây lá rộng á nhiệt đới núi thấp phục hồi sau nương rãy, lửa rừng (IIA, IIB cũ)

 

- kf6c : Rừng thứ sinh cây lá rộng á nhiệt đới  núi thấp phục hồi sau khai thác chọn thô (IIIA1 cũ).

 

* kf7.  Kiểu phụ 7: Rừng kín thư­ờng xanh mưa ẩm cây lá rộng xen cây lá kim á nhiệt đới núi thấp.

 

Kiểu phụ này ở độ cao từ 1300 trở lên, rừng mới bị khai thác chọn. tinh một vài lại gỗ quý như Vù hương, Dầu gió, Giổi xanh. diện tích nương rãy ở độ cao này không đáng kể, Nhiều dông núi cao 1300m trở lên gần như không có nương rãy. Kiểu phụ này chỉ có một kiểu phụ nhỏ, ta kí hiệu là kf7a .

 

- kf7a : Rừng nguyên sinh cây lá rộng xen cây lá kim á nhiệt đới núi thấp (Trạng thái IIIA2, IIIA3, IVA theo phân lại cũ). Những loài cây lá kim chính lẫn trong rừng là Thông nàng, Thông tre, và lác đác có Thông ba lá… nhưng không phải là loài ưu thế sinh thái.

 

* kf8.  Kiểu phụ 8: Rừng thưa cây lá kim mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp. Kiểu rừng này chỉ có một trạng thái ta kí hiệu kà kf8a.

 

- kf8a : Rừng Thông ba lá thuần loài hay Thông ưu thế.

 

Theo kết quả điều tra ÔTC và phỏng vấn, chúng tôi nhận thấy, rừng thông Ba lá ở Tà Đùng chỉ là rừng thứ sinh phục hôi sau nương rãy lửa rừng vì Rừng thông ở đây không có tính ổn định. Theo một số người cao tuổi ở xã Đạ K’Nàng, trừng cây Ngo (Thông ba lá) hay rừng cây lá rộng xen cây Thông ba lá, khi bị chặt, phát đốt làm nương rãy hay bị lửa rừng đốt cháy, khi phục hồi lại rừng, nếu trên đất tốt, chủ yếu cho rừng thứ sinh cây lá rộng á nhiệt đới ven cây lá kim, bởi vì các loài cây lá kim lúc đầu mọc nhiều nhưng lớn chậm bị cây lá rộng cùng tái sinh che lấp nên ít có khả năng tồn tại và không cạnh tranh nổi với nhiều loài cây lá rộng. Người dân còn cho biết, có những năm được mùa hạt thông và có thời tiêt tốt nhu gió thổi thuận, phải có cháy rừng xảy ra nhanh, sau khi cháy lại có mưa kéo dài, những hạt thông (Thông ba lá) còn sót lại vì chưa cháy hết, cùng những hạt thông mới rơi rụng sau khi cháy rừng sẽ mọc hàng loạt, ở nơi đỉnh núi hay sườn núi đất xấu, ít cây lá rộng, thông sống nhiều sẽ có rừng thuần, còn nơi đất tốt không thuận sẽ có rừng hỗn giao.  Điều này lý giải cho việc xuất hiện các rừng thông ba lá tự nhiên đồng tuổi ở phía Bắc và phíá Đông Namkhu bảo tồn.

 

+ Hệ sinh thái rừng Tà Đùng có đầy đủ các trạng thái rừng

 

Theo tiêu chuẩn phân loại rừng trong thông tư 34 của bộ NN&PTNT hướng dẫn và qui định. Điều đó cũng cho biết, hệ sinh thái rừng ở đây cần đầy đủ các hoạt động, các tác động của ngành lâm nghiệp vào các trạng thái rừng để rừng tồn tại và phát tiển.

 

Tính tương ứng của các trạng tháí rừng theo phân loại cũ của Loeschau (1961) với phân loại mới vận dụng trong báo cáo này như sau:  

 

Theo hướng dẫn mới trong TT số 34, Chúng ta có 2 loại rừng chia theo nguồn gốc là rừng tự nhiên (Rừng tự nhiên phục hồi theo phương thức tái sinh tự nhiên) và rừng trồng (Phục hồi rừng theo phương thức trồng lại rừng). Ở Tà Đùng chỉ có 1 loại rừng tự nhiên.

 

 Rừng tự nhiên chưa bị tác động được gọi là rừng nguyên sinh. Rừng tự nhiên đã bị tác động của tự nhiên hay con người, chỉ làm thay đổi tạm thời cấu trúc rừng và tính chất của rừng. Sau một thời gian nhất định ngừng tác dộng, chúng có thể tự phục hồi lại cấu trúc và tính chất của rừng, rừng đó vẫn được xem là rừng nguyên sinh. Nhưng cần chú thêm mức độ tác động khác nhau để dễ phân biệt và quản lý..

 

Trạng thái rừng tự nhiên IVA theo phân loại cũ của Loeschau là trạng thái rừng tự nhiên chưa bị tác động hay bị tác động không đáng kể. Được gọi là rừng nguyên sinh và nếu gọi chính xác hơn là rừng nguyên sinh nguyên vẹn.

 

Tại Khu BTTN Tà Đùng, Trạng thái rừng IVA cũ, hiện còn khá và có trữ lượng >300m3 /Ha, được xếp vào loai Rừng nguyên sinh nguyên vẹn rất giầu. Rừng nguyên  sinh ở Tà Đùng có diện tích lớn nhất, chiếm tới 39% diện tích Khu BTTN. Trạng thái này thường phân bố ở vùng xa, hẻo lánh, hiểm trở, thường ở cao trên 1300m, nơi mà năm 2002 lâm trường Đák Plao chưa khai thác tới. Kết cấu rừng IVA còn khá tốt, tầng cây gỗ lớn(A) của rừng có 3 tầng phụ(A1,A2,A3.), ít dây leo bụi rậm, trong rừng nhiều cây gỗ lớn chết già, tiểu khí hậu rừng khá ổn định, hệ sinh thái rừng ở đây cân bằng, Đất, Nước được bảo vệ, duy trì. Số và chất lượng nguồn nước tốt. Nước hồ thủy điện ĐN3 và  sông, suối quanh KBT là do hệ sinh thái rừng nguyên sinh ở đây quyết định, chi phối và điều tiết..

 

Trạng thái rừng tự nhiên IIIA3 ( theo phân loại cũ của Loeschau) là  trạng thái rừng tự nhiên bị tác động nhẹ vào cấu trúc, có trữ lượng đạt 201-300m3 /Ha, được xếp vào loại Rừng giầu của Khu BTTN.

 

Trạng thái rừng tự nhiên IIIA2 theo phân loại cũ của Loeschau, trạng thái rừng này bị tác động vào cấu trúc mạnh hơn so với rừng IIIA3. Trữ lượng đạt 101-200m3 /Ha, được xếp vào loại Rừng trung bình của KBT. Trạng thái IIIA2, IIIA3 có trữ lượng còn khá cao, cấu trúc tầng cây lập quần và những tính chất của rừng tuy có bị suy giảm rõ nhưng chỉ cần có một thời gian ngắn nhất định ngưng tác động tiếp khoảng 10-15 năm là rừng có thể tự phục hồi lại cấu trúc và tính chất ban đầu của rừng. Theo tiêu chuẩn phân loại trong TT 34, Rừng ở trạng thái IIIA2, IIIA3 của Tà Đùng vẫn được coi là rừng nguyên sinh và chính xác hơn phải gọi là rừng nguyên sinh bị tác động  nhẹ.

 

Diện tích rừng nguyên sinh bị tác động nhẹ (IIIA2, IIIA3 cũ) trong khu bảo tồn khá nhiều, gần 1000 ha và phân bố ở độ cao 900 tới 1300m.trong các tiểu khu xung quanh dãy Tà Đùng và đôi khi xen kẽ với các kiểu rừng khác.

 

Trạng thái rừng tự nhiên nghèo sau khai thác  IIIA1 (PL cũ), có đặc điểm: trữ lượng rừng thấp dưới 100m3/ha, kết cấu rừng bị phá hoại nhiều, có nhiều lỗ trống và dây leo bụi rậm,

 

Diện tích rừng IIIA1 ở Tà Đùng khá ít, chiếm 4,1% diện tích khu bảo tồn, thường phân bố ở độ cao 1200m trở xuống.

 

Theo lý thuyết, Do bi khai thác quá mạnh nên kết cấu tầng cây gỗ bị phá hoại, thành phần lòai cây cơ bản bị biến đổi. Tuy có tái sinh tự nhiên nhưng phục hồi tự nhiên của rừng sau khai thác kiệt rất chậm, thông thường phải sau một thời gian rất lâu, rừng IIIA1 mới được hồi phục. Rừng phục hồi lại có hai hướng: Một là rừng tự phục hồi lại được kết cấu rừng cũ, Hai là rừng tự phục hồi lại được có cấu trúc khác rưng cũ, có chất lượng kém hon rừng cũ vì nhiều cây chính cũ đã bị thay thế bằng những loài cây ưa sáng ngắn ngày. Nếu đi theo hướng hai, rừng IIIA1 được xếp và nhóm rùng thứ sinh nghèo phục hồi sau khai thác chon kiệt, còn đi theo hướng một có thẻ xếp vào nhóm rừng nguyên sinh bị tác động mạnh.

 

Theo kết quả điều tra, thực tế ở Tà Đùng có khác; Do đất đai tốt, do khí hậu thuận hoà, mưa nhiều, ấm, ẩm, không có tháng khô kiệt, do xa dân, không bị tác động tiếp, mặt khác do rừng IIIA1 sau khai chọn những năm 2000 còn khá tốt về kết cấu và trữ lượng nên sau 10 năm đóng của rừng, rừng đã phục hồi khá tốt về kết cấu (Tầng A đã có 2 đến 3 tầng phụ) và trữ lượng so với rừng ban đầu (phần lớn trữ lượng thuộc nhóm rừng trung bình)., đối chiếu với tiêu chuẩn trong TT 34, đa phần diện tích rừng IIIA1 phân bố ở đai rừng á nhiệt đới núi thấp trước đây có trong KBT Tà Đùng đến nay đều thuộc diện rừng trung bình và có thể xếp xếp chúng vào nhóm rừng nguyên sinh bi tác động mạnh. Số diện tích rừng IIIA1 ở độ cao 1 này, theo phân loại 34 được xếp vào nhóm  rừng thứ sinh nghèo, sau khai thác chọn kiêt.

 

Trạng thái rừng tự nhiên IIA, IIB (theo phân loại của Loeschau cũ), Theo tiêu chuẩn mới nêu ra trong thông tư 34, trạng thái IIA, IIB cũ được gọi là rừng thứ sinh phục hồi sau nương rãy, lửa rùng chưa có trữ lượng. Trạng thái này hiện có diện tích nhỏ, phân bố theo vùng hay theo đám khá rộng, ở vùng thấp dưới 1200m giáp ranh với dồng ruông, nương rãy, quanh làng bản, chân núi, ven đường đi, trên đất  làng bản cũ nay đã di rời hay các nương rãy bỏ hoang cây rừng đang hồi phục ở vùng Đông Bác và Tây Bắc và Tây Nam KBT. Trạng thái này chủ yếu thuộc vùng rừng phòng hộ và khu phục hồi sinh thái của KBT (Ở các tiểu khu 1767,1772, 1794, 1803,1807,1811,1814). Tước đây, rừng non phục hồi sau nương rãy và lửa rừng (Trạng thái IIA, IIB) còn được xếp chung nhóm với Rừng phục hồi sau khai thác kiệt (trạng thái IIIA1) và có một tên chung là rừng thứ sinh nhân tác.

 

-Trạng thái IA, IB cũ, theo phân loại 34 mới, được gọi là đất trống không có cây gỗ tái sinh. Trạng thái này  có diện tích nhỏ, phân bố thành từng đam nhỏ ở vùng làng bản cũ ủa đồng bào dân tộc nay đã di rời hay trên các nương rãy bỏ hoang, thường xuyên bị cháy rừng. (thuộc các tiểu khu 1767, 1803,1807,1811,1814) .

 

-Trạng thái IC, (Đồi trọc hay Trảng cỏ, Trảng cây bụi đã có từ 500cây gỗ tái sinh ) theo chỉ tiêu phân loại trong TT 34,  được gọi là đất trống có có cây gỗ tái sinh. Trạng thái này  có diện tích nhỏ, phân bố thành từng đám nhỏ cùng cac trạng thái IA,IB ở vùng làng bản cũ nay đã di rời ở hay trên các nương rãy bỏ hoang (thuộc các tiểu khu 1767, 1757, 1803,1807,1811,1814) .

 

3.1.2.  Hệ sinh thái hồ, ao, suối

 

  Hệ sinh thái này ở khu KBTTN khá rộng về diện tích vì diện tích hồ TĐ ĐN3 nằm trong KBT đã lên tới 3.631,7 Ha. Chưa kể 60 dòng suối trong KBT. Những dòng sông nhỏ là thượng nguồn sông Đồng Nai nằm ở phía Tây hay Tây Nam Khu BTTN nay đã thành hồ nước, chỉ rõ hình thù vào mùa nước cạn. Hệ thống suối phía Bắc và Đông Bắc Khu BTTN chạy theo hướng đông nhập với các sông nhỏ tên địa bàn Đam Rông như  Sông Đạ Troung, Sông Đạ K’Nàng, sông Đạ Trang rồi chạy theo hướng Tây Bắc đổ ra sông Krông Nô. Hệ thống Suối phía Tây và Nam đều chạy theo hướng Tây hay Tây Nam đổ ra Hồ thủy điện Đồng Nai 3. Cả 2 hệ thống suối này có 20 con suối có nước quanh năm nhưng thường đầy nước vào mùa hè và ít nước về mùa khô. Nước trong Hệ sinh thái hồ, ao suối của Khu BTTN phụ thuộc hoàn toàn vào chất lượng rừng của Khu BTTN. Nhiều con suối đã mất nước vì rừng trên phạm vi của nó đã bị mất. Hiện tại nước ở một vài con suối ở phia Tây Bắc, Đông Bắc đã bắt đầu bị ô nhiễm bùn đất, đá lở, mất nước nước ít, nước đục, đá trôi, đất bồi lấp do mất rừng nên. Đã xuất hiện nhiều lũ ống, lũ quét, lụt lội trong năm. Các loài sinh vật thủy sinh như các loài Tôm, Cua, cá trắng, Cá đen, Cá da trơn, ếch, nhái, bò sát.. đặc biệt là cá trắng, Cá Lóc, Cá bống, Tôm, cua đang phát triển mạnh ở vùng hồ thủy điện như chúng lại vắng bóng ở nhiều đoạn sông suối vì bị săn bắt, sục điện, nổ mìn, và nước bị ô nhiễm.

 

3.1.3 .  Hệ sinh thái làng xóm

 

Hệ sinh thái làng xóm trong Khu BTTN về nguyên tắc sẽ không còn nhưng thực tế thôn 3 và thôn 5 của đồng bào H’Mông xã Đắk P’Lao cũ không chịu di rời nằm lại trong vùng lõi khu bảo tồn sẽ là một khó khăn không nhỏ cho công tác quản lý lâu dài.

 

Hệ sinh hái làng sóm rộng lớn ở vùng đệm nằm rải rác quanh và đã áp sát Khu BTTN. Người dân sống tập trung chủ yếu dọc các khe suối lớn, chân các dải núi đất hoặc gần với các thung lũng rộng có dòng nước, có đất để canh tác, nơi còn rừng tốt để lấy gỗ, lấn đất rừng để trồng cà phê, cây công nghiệp cây ăn quả, cây lương thực. Trong Hệ sinh thái làng xóm, người dân thường chăn nuối gia súc, gia cầm..nhưng phần lớn còn thả rong vào rừng trong Khu BTTN mà không có người chăm sóc, đây chính là tác nhân phá hoại nhiều cây tái sinh của các dải rừng quanh làng xóm và chuyền lan dịch bệnh. Các loài cây như Nhãn Vải, Cam, Chanh, ổi, Xoài, Mận, Mít, Hồng, Vông nem, Bưởi, Bời lời, Ca ri, Cây hoa, Cây cảnh, Cây rau ăn..... có trong Hệ sinh thái làng xóm được người dân trồng một cách tự phát. Quanh các miếu thờ hay trong rừng ma của làng xóm, còn giữ được một số cây rừng như Dáng Hương, Cẩm Lai, Trương Vân, Trường sâng, Trường Vải, Dầu, Sao, Đa, Sanh, Đề, Ngõa, Giổi, Re, Dẻ, Xoan nhừ, Xoan mộc hay Kơ nia... Các loài cây hoa lan qúy, các loài cây Bonsai tốt có chơi trong các gia đình cư dân sống quanh KBT ngày một nhiều mà nguồn gốc đều  do thu nhặt từ rừng trong KBT. Người dân  trong vùng đệm còn thường xuyên len lỏi vào rừng, lấn chiếm đất rừng của KBT để mở rộng nơi ở, làm nương rãy, trồng Bời Lời, Cà phê, hay nhượng bán.. gây trở ngại lớn cho sự phát triển của KBT hiện nay và sau này.

 

3.1.4. Hệ sinh thái đồng ruộng, nương rãy

 

  Hệ sinh thái đồng ruộng nương rẫy trong Khu BTTN còn không đáng kẻ, chỉ tập trung ở vùng đệm. Đồng ruộng và nương cũ vùng đồng bào đã di rời chỉ còn một số ruộng nước trồng lúa còn tiếp tục canh tác một vụ, còn đại bộ phận nương rãy đã bỏ hoang, Nương lúa, nương Sắn, Nương ngô mới mở do nạn phá rừng những năm qua không đáng kể và thường rất nhỏ, ở sát nơi dân ở, bám vào chân núi đất nơi có rừng của Khu BTTN. Sản xuất tự do trên đồng ruộng, nương rãy trong khu vực dã làm cho một số loài cây ngắn ngày như Lúa, Sắn, Ngô, Khoai, Lạc, Đỗ, Vừng, Rong, Dưa, Dứa, Mía, Cà phê, Ca ri, Bời lời, Chè, Mía......tăng vụt về số lượng cá thể  nhưng kéo theo là sự mất mát của nhiều loài cây rừng vì bị chặt phá, đốt bỏ, lấy đất làm nương rãy.

 

3.1.5.  Hệ sinh thái đồng cỏ

 

Hệ sinh thái đồng cỏ trong Khu BTTN có diện tích rất nhỏkhông liền khoảnh mà phân bố rải rác trên một số dông núi, đỉnh núi độc lập, trong các thung lũng hẹp, quanh làng xóm, nơi trước đây được đốt nương làm rẫy để lại ở độ cao dưới 1200m. Ngoài các loài cỏ phổ biến trong Hệ sinh thái đồng cỏ như Cỏ lau, Cỏ chít, Cỏ rác, Cỏ là tre thấp, Cỏ lá tre cao, Cỏ tranh, Cỏ lông lợn, Cỏ sâu róm, Cỏ mỹ, Cỏ Lồng vực, Cỏ Sậy, Le... trong hệ sinh thái này còn nhiều cây bụi thân gỗ như Sim, Mua, Thanh Hao, Găng, Lấu, Bồ cu vẽ… và xen kẽ là các mảng rừng thưa có nhiều cây gỗ  rụng lá và một số loài tre nứa như Lồ ô hay Le.

 

 

 

3.2. Các kiểu và trạng thái rừng 

 

3.2.1. Tiêu chẩn áp dụng trong phân loại rừng

 

          *Phân loại thảm thực vật rừng: Chúng tôi sử dụng phương pháp và ứng dung kết quả phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam của Thái Văn Trừng trong phân tích, phân loại thảm thực vật rừng khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng.

 

Theo Thái Văn Trừng đã lấy chỉ tiêu khí t­ượng của nơi phân bố rừng và lấy kết cấu tổ thành loài lập quần, căn cứ vào kết cấu tầng thứ, dạng sống của thực vật rừng làm tiêu chuẩn chính để phân loại thảm; Tại Tà Đùng, Khí tượng vùng là đồng nhất nên căn cứ xác định thảm chủ yếu dựa vào kết cấu tổ thành rừng, tầng thứ và dang sống của thực vật để phân chia kiểu thảm của thực vật rừng.

 

*Chúng tôi sử dụng các tiêu chí, các tiêu chuẩn về phân loại rừng việt Nam mới nhất nêu trong thông tư số 34/2009/TT- BNNPTNT của bộ NN& PTNT để phân loại trạng thái rừng.

 

Một điều đáng chú ý là Trong thông tư 34 không còn dùng thang bậc phân loại trạng thái rừng của Loeschau (1961) là phân loại rừng tự nhiên vào các trạng thái từ IA, IB, IC, IIA, IIB, IIIA1, IIIA2, IIIA3, IIIB, IVA, IVB dựa cào cấu trúc, tổ thành, mật độ và trữ lượng rừng, không còn dùng danh từ  “Rừng thứ sinh nhân tác” mà chỉ dùng cụm từ có nghĩa rộng hơn là rừng thứ sinh.

 

 

 

3.2.2. Các kiểu rừng và trạng thái rừng của khu BTTN Tà Đùng

 

3.2.2.1.  RỪNG KÍN TH­ƯỜNG XANH M­ƯA ẨM NHIỆT ĐỚI ( ĐỘ CAO TRUNG BÌNH  D­ƯÓI 1000M)

 

Kiểu rừng này phân bố rộng, xung quanh Khu BTTN. Về lý thuyết kiểu rừng này có phân bố dưới 1000m nhưng do địa hình và hướng phơi, ỏ phía Tây Khu BTTN nóng hơn nên kiểu rừng này vươn tới độ cao 1100m. còn ở hướng Đông khí hậu mát, lạnh hơn kiểu rừng này xuống thấp hơn 1000m. kiểu “Rừng kín thường xanh m­ưa ẩm nhiệt đới” ví như tấm đệm lót, trải đỡ nàng tố nữ “Tà Đùng” nằm với tấm chăn xanh thẫm phủ trên mình là rừng kín thường xanh á nhiệt đới núi thấp rộng lớn. Do khai thác chọn kiệt, do đốt nư­ơng làm rãy, do chăn thả trâu bò và đặc biệt do nạn lửa rừng, đến nay Rừng kín th­ường xanh mư­a ẩm nhiệt đới nguyên vẹn không còn, hoàn toàn là rừng thứ sinh nghèo.

 

 Kiểu rừng này có các kiểu phụ sau:

 

-   Rừng nhiệt đới thứ sinh nghèo phục hồi sau khai thác chọn kiệt (Trạng thái IIIA1 theo phân loại cũ)

 

-   Rừng nhiệt đới, thứ sinh, chưa có trữ lượng, phục hồi sau nương rãy, lửa rừng. (Trạng thái IIA, IIB theo phân loại cũ)

 

-   Rừng nhiệt đới thứ sinh nghèo, gỗ xen tre nứa hay tre nứa xen gỗ phục hồi sau nương rãy, lửa rừng.

 

-   Rừng tre nứa thứ sinh trữ lượng trung bình, phục hồi sau nương rãy, lửa rừng. (3000-6000caay lồ ô/Ha)

 

   -  Đất chưa có rừng có và chưa có cây gỗ tái sinh.

 

 

 

Đặc trưng các kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới

 

Kiểu phụ 1Rừng nhiệt đới thứ sinh nghèo, phục hồi sau khai thác chọn kiệt      (Trạng thái IIIA1 theo phân loại cũ)

 

Diện tích không lớn chỉ có 230,3 ha, chiếm 1,2% tổng diện tích KBT, phân bố ở phía Nam, Tây Nam và phía Bắc KBT, rải rác trong các tiểu khu 1781, 1793, 1767, 1811.

 

Các  loài cây gỗ lớn có giá trị kinh tế cao nhu: Dầu Gió (Manglietia blaoensis), Dầu gió xanh (Michelia mediocris), Giổi găng (Michelia braianensis), Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa), Cẩm lai (Dalbergia bariensis), Giáng hương (Pterocarpus macrocarpus) Re các loại (Cinnamomum spp), Gội nếp (Amoora gigantea), Sao đen (Hopea odorata), Sao xanh (Hopea ferrea) và các loài khác trong họ Dầu (Dipterocarpaceae), Họ Đậu (Fabaceae), họ Dẻ (Fagaceae)… đã bị khai thác chọn kiệt hết cây to, cây tốt chỉ còn cây con của các loài đã bị khai thác hoặc cây lớn của chúng nhưng thường  sâu bệnh,  rỗng ruột.

 

Do các cây gỗ to, cao bị khai thác mất, cấu trúc của rừng đã có sự thay đổi, chiều cao rừng thấp xuống mất 1/3 chiều cao, tán rừng bị phá vỡ nhiều chỗ. Độ khép tán của rừng thấp 0,4 - 0,6 và không đều, nhiều khoảng trống không có cây;.. Trong thành phần thực vật rừng còn để có nhiêu loài cây ưa sáng, sinh trưởng nhanh, gỗ xấu, giá trị kinh tế thấp như: Ngát (Gironniera subequalis), các loài Đa, Si, Sung, Vả, Ngõa (Ficus spp.), Quyếch tía (Chisocheton paniculatus), Chẹo tía, Cheo trắng, Chẹo Lông (Engelhardtia spp.), Chò sót (Schima wallichii), Vối thuốc (Schima superba), Các loài Trâm (Syzygium spp.), các loài Dẻ (Castanopsis spp), Các loai Sồi (Lithocarpus spp.). Nơi tán rừng bị phá vỡ, các loài cây ưa sáng như: Vạng trứng, (Endospermum chinense), lá nến (Macaranga denticulata), Sòi tía (Sapium discolor), Ba soi (Mallotus paniculata), Lim xẹt (Peltophorum dasyrrhachis), Hoắc quang (Wendlandia sp), Thẩu tấu (Aporosa didoica) Bời lời nhớt (Litsea glutinosa), Côm tầng (Elaeocarpus griffithii), Dâu da đất (Baccaurea sapida), Dung Giấy (Symplocs laurina), Gạo rừng (Bobax ceiba), Kháo nước (Phoebe pallida), Rè vàng (Machilus odoatissima), Lòng mang (Pterospermum diversifolium), Thôi ba (Alangum chinensis),Dâu da xoan (Spondias lakonensis), Thành ngạnh (Cratoxyon cochinchinensis), Xoan nhừ (Allospondias axillaris), Xoan mộc (Toona sp), Re hương (Cinnmomum iners), Dẻ gai (Castanopsis indica), Gáo trắng (Neocadamba sp), Gáo vàng (Adina sp), phay sừng (Duabanga nudifloria), Tô hạp (Altingia siamesis)… phát triển rất mạnh, ồ ạt tăng nhanh về số lượng đã làm cho tổ thành rừng bị thay đổi khá nhiều.

 

Do có nhiều khoảng trống nên Lồ ô, tre nứa, nhiều loài cây cỏ, dây leo, quyết thực vật trước đây bị ức chế do thiếu ánh sáng vì độ tán che cao, nay có đủ nắng và ánh sáng chúng phát triển rất nhanh, chiêm cứ các khoảng đất trống, lấn át cây tái sinh..

 

-Tán tầng cây gỗ có 2 tầng phụ, nhưng phân chia tầng chưa rõ, chiều cao bình quân lâm phần đạt 12-15m., Đường kính trung bình tầng cây gỗ đạt 10-15cm, nơi xa dân cư đạt  20-25cm.  trữ lượng đạt 80-120m3/ha. Khả năng tái tạo lại rừng rất tốt nếu không bị phá hoại tiếp tục.

 

- Lớp cây tái sinh dưới tán rừng tương  đối khá, đạt  6.000-7.000 cây/ha. Có nhiều loài cây gỗ to xuất hiện như: Gội gác (Aglaia aphanamixis), Trường vải (Paranephelium chinensis), Giổi găng, Sồi Hồng (Lithocarpus henryi), Dẻ gai đỏ (Castanopsis hystris), Lim xẹt, Kháo (Phoebe sp), Sảng xoan (Heynea sp), Re bầu (Cinnammum obtusifolium), Re hương, Táu mật (Vatica odorata), Dáng Hương, Sao Xanh, Trám trắng (Canarium album), Trám nâu (Canarum sp), Trường Sâng (Amesiodendron chinensis)….

 

- Cây bụi gồm: Gai dại, Bọ mắm, Bỏng nổ, Lấu, Găng gai, Bồ cu vẽ, Bọt ếch, Phèn đen, Quanh châu, Mua … và nhiều loài cây khác.

 

-Tầng thảm tươi có Thu hải đường, Ráy, Ngải liên, Sa nhân, lá dong dại, Nghệ rừng, nhiều loài quyết thực vật, nhiều loài cỏ như: Cỏ lá, cỏ rác, Cỏ chân nhện, Cỏ quân, Cỏ đĩ, Cỏ tranh, Lau, Chít, Chè vè, nhiều nơi có Lồ ô, Nứa , Le... phân bố.

 

-Thực vật ngoài tầng gồm: Đùng đình, Lụi xẻ, Lá nón,  Dây muồng, Dây Mỏ quạ, dây Móc câu, Dây Móc hùm, Dây móc mèo, Dây sống rắn, Dây dất na, Dất nhung, Dây gắm, Móng bò, Dây Bướm, Dây Mộc thông, Dây Bìm Bìm, Móng bò, Vỏ quạch, một số phong lan, Tóc tiên, Tầm gửi,

 

Các ưu hợp thực vật điển hình của rừng là:

 

  • Chẹo tía, Thành ngạnh, Thẩu tấu, Muồng ván xe
  • Nhiều loài cây gỗ  + Lồ ô(Phân bố rộng)
  • Xoan mộc, Dung, Thẩu tấu, Hoắc quang, Hu đay(Phân bố rộng).
  • Lim xẹt, Trường sâng, Gội, Re, Dẻ (Phân bố rộng)
  •  Dẻ  gai, Vôi thuốc, Trâm tía, đái bò, (Phân bố rộng)
  • Phay, Gioi suối Trâm suối, Rù rì, Thuỷ xương bồ (Dọc các khe suối)
  • Ưu hợp Thành ngạnh - Thẩu tấu - Ba soi - Hoắc quang, Lồ ô, Nứa.

 

Kiểu phụ Rừng nhiệt đới thứ sinh nghèo, phục hồi sau khai thác chọn kiệt là một trong những sinh cảnh quan trọng đối với Chim, Thú rừng của Tà Đùng và cũng là đối tượng bị người dân lấn chiếm nhiều nhất. (thuộc các tiểu khu 1767, 1803, 1807, 1811,1814) .

 

Kiểu phụ 2Rừng nhiệt đới thứ sinh chưa có trữ lượng, phục hồi sau nương rãy, lửa rừng.        (Trạng thái IIA, IIB theo phân loại cũ)

 

Đặc trưng chính:

 

Diện tích nhỏ, chiếm 0,7% tổng diện tích Khu BTTN

 

Phân bố rải rác trong các tiểu khu 1767, 1772, 1794, 1803, 1807, 1811, 1814).

 

              Nguồn gốc: Do các hoạt  động nương rẫy và lửa rừng đã làm mất đi lớp thảm  rừng nhiệt đới, sau đó được bỏ hoá nhiều năm và rừng non đã phục hồi.

 

Rừng có độ tàn che thấp: S = 0,4 - 0,7. Rừng thường  có một tầng, đường  kính bình quân phụ thuộc vào thời gian phục hồi và điều kiện lập địa nương rẫy cũ. Trữ lượng chưa có hay rất thấp,đường  kính dưới 12cm, chiều cao bình quân 8 - 10m.

 

Rừng chưa phân tầng. Thành phần các loài cây gỗ tham gia phục hồi rừng gồm: 

 

Những cây gỗ to còn sót lại sau khai thác không đáng kể, chủ yếu là cây tái sinh chồi từ những gốc cây xù xì, cong queo còn lai..

 

Những loài cây ưa  sáng, tiên phong như:  Ba soi, Lá nến dày, Vạng, Màng  tang (Listea cubeba), Bời lời lá tròn (Listea monopetala), Bời lời nhớt (Listea glutinosa), Hu đay (Trema orientalis), Hồng quang  (Phodoleia championii)… Sung,  Đa,  Phay, Thành ngạnh, Sòi hến, Sòi tía,  Đỏm gai, Chòi mòi, Thẩu tấu (Aporosa didoica), Lòng mang, Dâu da xoan, Xoan nhừ, Thôi ba, Hà nu (Ixonanthes cochinchinensis), Chẹo tía, Sảng nhung (Sterculia lanceolata), Cà muối (Rhus semialata), Mùng quân rừng (Flacourtia rhukam), Sơn rừng, Chò Nhai, Đăng (Tetrameles nudiflora), Muồng trắng (Albizzia procera), Ván xe,  Hoắc quang…

 

Những loai cây rừng cho gỗ tốt  mọc xen rải rác nhưng số lượng còn ít: Giổi bà (Michelia balansae), Giổi Xanh, Chò nhai (Anogeisus chinensis), Sồi bán cầu (Lithocarpus hemisphaericus), Dẻ cau (Quercus bella), Cà ổi (Castanopsí indica), Trường sâng, Gội tẻ, Ké (Xerospermum sp), Côm, Vảỉ thiều (Nephelium  chryseum),.vv...

 

Cây bụi: chỗ nhiều, chỗ ít, chủ yếu gồm: Lấu, Găng, Ngũ sắc, Mua, Cây lá men, Đơn buốt, Cỏ đuôi chuột, Cỏ lào, Quanh châu, Rau bép.

 

Dây leo, phụ sinh: nhỏ, không đều: Bướm nhẵn, Bướm bạc, Dạ cẩm, Dây Cóc, Móng bò lá nhỏ, Móc mèo, dây Sưa, Thèm bép và nhiều loại Bìm bìm, Sống rắn, nhiều loài phụ sinh như phong lan, tai chuột, hạt bí…...

 

Tầng thảm tươi: Do đất còn tốt và nhiều ánh sáng nên ở những chỗ trống có tầng thảm tươi phát triển mạnh, thường gặp: Cỏ lau, Có Chít, Xấu hổ, Cỏ lá, cỏ rác, Cỏ chân nhện, Cỏ quân, Cỏ lá tre cao, Cỏ tranh, Chè vè, Cỏ đĩ, Thu hải đường, thồm lồm, Nghể chua, Ngải liên,Sa nhân, Riềng gió, nhiều loài quyết thực vật, đặc biệt nhiều đám rừng thuàn loài Lồ ô, nứa tép, Chuối rừng phân bố

 

Rừng thứ sinh đang phát triển nên chưa thể hiện rõ rệt quần xã thực vật ưu thế trên diện rộng. Dựa vào sự ưu thế về số lượng trong pham vi hẹp ta thấy có một số Ưu hợp thực vật điển hình (chỉ tâp trung theo đám) ở loại rừng này có:

 

  •  Thành ngạnh, Thẩu tấu, Hoắc quang, lau, chít
  •  Lòng mang, Chẹo tía, Thôi chanh, Thôi ba, Cỏ Lào
  • Ba soi, Lá nến,  Bời lời, Sòi hến, Sấu hổ
  • Dẻ, Re, Chẹo, hoắc quang   …

 

Tuy chất lượng cây gỗ phục hồi không được tốt nhưng kiểu rừng này là đối tượng để hoanh nuôi tích cực có trồng rặm cây tái sinh mục đích trong công tác khoanh nuôi phục hồi rừng và là sinh cảnh sống chính của một số loài động vật như Lợn rừng, Cầy, Mang và các loài chim.

 

 

 

-         Kiểu phụ 3 Rừng nhiệt đới thứ sinh nghèo, gỗ xen Lồ ô hay Lồ ô xen gỗ phục hồi sau nương rãy, lửa rừng.

 

Rừng được hình thành trên đất nương rãy bỏ hóa hay trên đất rừng bị lửa rừng thiêu cháy nhiều lần hoặc trên một số diện tích đất rừng bị khai thác quá kiệt quệ nhiều lần kể cả gỗ củi, đến mức không còn khả năng phục hồi lại rừng gỗ mà Lồ ô và những cây ưa sáng tiên phong nhảy vào thế chỗ. Lồ ô, (đôi nơi có cả Nứa nhỏ) phát triển mạnh lấn át và kìm hãm cây gỗ tái sinh trừ một số cây gỗ ưa sáng ban đầu và những loài cây có khả năng chịu bóng che của Lồ ô (Schizostachyum polymorphum). Tầng cây gỗ luôn ở tầng cao thường gặp các loài Bông bạc (Vernonia arborea), Ván xe (Albizzia chinensis), Sung rừng cao (Ficus harmandii), Bồ hòn  (Sapindus saponaria), Bản xe (Albizia myriophylla), Nhội (Bischofia japonica), Vỏ rụt (Ilex godajam), Trân vối (Syzygyum  cuminii)…vv.. Tùy số lượng cây gỗ trong rừng mà hình thành rừng cây gỗ ưu thế ở tầng trên còn tầng dưới là Lồ ô và Nứa nhỏ (Neohouzeana dulloa) hay Rừng Lồ ô chiếm ưu thế, chỉ lác đác có cây gỗ mọc, vươn tán hay chen tán với Lồ ô. Những nương rãy vùng thấp gần dân cư hay ven chân núi hoặc trong các thung lũng hẹp ven các con suối nhỏ, bị bỏ hóa thường có kiểu rừng này. 

 

Diện tích kiểu rừng này khoảng 1000 Ha, chiến khoảng 4,6% diện tích khu bảo tồn. Trong dự án đầu tư năm 2001, không tách Kiểu rừng này ra khỏi rừng tre nứa. Diện tích này được ghép với diện tích rừng tre nứa thành tổng số 3.714,8ha, chiếm 19,7% tổng diện tích tự nhiên KBT. Kiểu rừng này có phân bố đan xen với rừng Lồ ô nằm rất rải rác ở các tiểu khu 1767, 1772, 1775, 1787, 1793, 1807, 1811, 1814  thuộc Phía Bắc và Tây Nam KBT.

 

Rừng Cây gỗ xen Lồ ô hay Lồ ô xen Cây gỗ nằm dọc theo các tuyến đường giao thông, hay nằm gần làng bản là những trọng điểm dễ gây nên cháy rừng cần được quan tâm trong công tác bảo vệ rừng.

 

Khả năng phục hồi rừng gỗ ở đây rất khó khăn, phải giữ làm sao cho rừng không được cháy, khi Lồ ô bị khuy là lúc những cây gỗ tái sinh mạnh, vươn lên chiếm ưu thế để trở thành rừng gỗ.

 

  • Ưu hợp Trâm - Kháo - Sồi -  Lồ ô (Rừng gỗ xen Lồ ô)
  • Ưu hợp Bông bạc, Ván xe, bản xe, Lồ ô, Le (Rừng gỗ xen Lồ ô, Le)        
  • Ưu hợp Lồ ô, Nứa - các loài cây gỗ ( Rừng Tre Nứa xen gỗ)
  • Le, Lồ ô- Ba soi,Chẹo, Thẩu tấu      (Rừng tre nứa xen gỗ)

 

-                            Kiểu phụ 4:  Rừng tre nứa thứ sinh trữ lượng trung bình, phục hồi sau nương rãy, lửa rừng. (3000-6000 cây lồ ô/Ha)

 

Diện tích: Kiểu này có diện tích lớn thứ 2 sau kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp. diện tích  tới 2.714,8ha, chiếm 15,7% tổng diện tích tự nhiên.

 

Phân bố: tập trung nhiều ở các tiểu khu 1767, 1772, 1773, 1781, 1787, 1793, 1796, 1804 ở phía Đông Bắc và Tây Nam KBT, nơi gần với các làng bản cũ đã bỏ hoang và sát với kiểu rừng Gỗ xen Lồ ô và Lồ ô xen gỗ.

 

Nguồn gốc: Kiểu phụ này là kết quả của quá trình canh tác nương rẫy và lửa rừng nhiều lần. Nguồn gốc của chúng cũng từ kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và á nhiệt đới, nhưng sau nhiều lần phát nương làm rẫy, các loài cây gỗ không còn khả năng tái sinh nhanh như trước nữa đã phải nhừơng lại cho Lồ ô (Pseudostachyum polymorphum), Nứa (Taeniostachyum dulloa) và Le (Oxytenanthera albocialata). Sau khi xâm nhập, các loài này nhanh chóng lan rộng trở thành rừng kín thường xanh thuần loài hoặc hỗn giao với các loài cây gỗ với tỷ lệ >75% là tre nứa.

 

Đặc trưng: độ tàn che lớn 0.7-1,0. Đây cũng là kiểu phụ bền vững trừ phi có tác động cải tạo của con người vì các loài cây gỗ tái sinh rất khó tồn tại dưới tán rừng dày đặc của Lồ ô. Theo kết quả điều tra trong ô tiêu chuẩn cho thấy, Lồ ô có đường kính bình quân 4-5cm, chiều cao bình quân 8-10m, mật độ 400bụi/ha, trữ lượng 4.000-8.000cây/ha. Những nơi có nứa nhay le chiếm cứ, Le có đường  kính nhỏ hơn (1,7-2,0cm), cao 5-6m, mật độ bình quân 8000- 10.000cây/ha. Các loài cây gỗ mọc lác đác trong rừng Lồ ô thường có: Thầu tấu, Chà hươu (W, Da nâu,  Chẹo, Đẻn (Vitex quinata), Thành ngạnh, một số loài khác rất ít cá thể trong các họ Fagaceae, Lauraceae, Theaceae……

 

Rừng Lồ ô thuần loài trong khu vực Tà Đùng luôn có kích thước nhỏ hơn nhiều so với Lồ ô ở trong rừng hỗn giao Gỗ xen Lồ ô hay Lồ ô xen gỗ mà nguyên nhân chính là do mật độ Lồ ô quá dày, đất bị xác do các chất dinh dưỡng cần cho Lồ ô không kịp hồi phục, rừng lồ ô hay bị cháy phá hủy đất.

 

Quá trình phục hồi rừng gỗ tự nhiên từ rừng Lồ ô rất lâu. Phải trải qua rừng Lồ ô xen gỗ, rồi tiến  lên rừng Gỗ xen Lồ ô và cuối cùng là rừng gỗ. Quá trình này con người không thể định được thời gian. Quá trình thuận từ rừng nhiệt đới hay á nhiệt đới trải qua lủa rừng, nương rãy  rồi bỏ hóa cho Lồ ô xâm lấn là rất nhanh, chỉ cần 5-10 năm..

 

Kiểu phụ 5:  Đất chưa có rừng có và chưa có cây gỗ tái sinh

 

Đất trống chưa có cây tái sinh  (Gồm Trảng cỏ, trảng cây bụi thứ sinh sau nương rãy, lửa rừng _  trạng thái IA, IB Theo PL cũ)

 

* Đất trống có cây gỗ tái sinh  (Trảng cỏ, trảng cây bụi có  từ 500 cây gỗ tái sinh, trạng thái IC theo PL cũ).

 

Đất chưa có rừng bao gòm: Trảng cỏ, Trảng cây bụi thứ  sinh trên đất thoái hóa có hoặc chưa có cây gỗ tái sinh.

 

Diện tích: Trạng thái này là 2.096 ha, chiếm 11,1% tổng diện tích KBT.

 

Phân bố:  Đất chưa có rừng khá phổ biến ở một một số vùng trong KBT đăc biệt gần các làng bản, ven đường giao thông, trên đất làng bản cũ ở phía Đông Bắc và Phía Tây khu bảo tồn và còn rải rác trong các tiểu khu 1772, 1773, 1787, 1794, 1808, 1807, 1814.

 

Nguồn gốc: Đây là hậu quả trực tiếp của lửa rừng và khai thác kiệt quệ rừng nhiệt đới nhiều lần, nhiều năm liền để lấy gỗ, lấy củi rồi chăn thả gia súc. Hoặc do quá trình phát đốt nhiều lần lấy đất làm nương rẫy.  Sau nhiều lần như thế đất bị rửa trôi mạnh, tầng đất nông và trở nên xương xẩu chỉ thích hợp đối với các loài cây bụi  và cỏ chịu gió, chịu chua, chịu hạn tồn tại. Thực vật trên đất trống thường gặp: Sim (Rhodomyrtus tomentoas),  Chè  vè (Miscanthus floribunda), Sầm (Memecylon sp), Mua (Melastoma saigonensis), Đom đóm  (Alchornea tiliaefolia), Cỏ tranh  (Imperata cylindrica), Cỏ lào (Eupatorium odoratum), Lách (Saccharum spontaneum), Lấu (Psychotria  reevesii), Quanh châu (Sageretia theezans), Bồ cu vẽ (Breynia  fruticosa), Thao kén (Heticteres hirsuta), Mua (Melastoma normale), Găng gai (Randia sp), Bòn bọt (Glochidron eriocarpum), Mẫu đơn (Ixora coccinea), Bồ cu vẽ (Breynia fruticosa), Chòi mòi lông (Antidesma sp), Mua bà (Melastoma candida), Ngũ sắc (Lantana  camara), Tế guột (Dicranopteris linearis)… Tuy nhiên, ở đây vẫn có một số loài cây gỗ nhỏ chịu hạn tái sinh như:  Thầu  tấu  (Aporosa dioica), Thành  ngạnh  (Cratoxylon spp.),  Sòi  (Sapium discolor), Hồng quang (Rhodoleia championii), Cà Muối, Cọc rào (Cleistanthus myrianthus), Nhò vàng (Streblus macrophyllus), Đáng (Schefflera octophylla), Ruối (Streblus asper), Vú bò (Ficus spp), Thôi chanh (Euodia paniculata), Nóng sổ (Saurauja tristylla), Đỏm lông (Bridelia tomentosa), Hu đay (Trema orientalis), Ba soi (Mallotus cochinchinensis), Bui bui (Mallotus apelta), Chè đuôi lươn (Adinandrra integerrima), Chạc hươu (Wendllandia laotica),  Dền (Xylopia vielana), các loài mua: Mua đất, Mua cao, Mua bà (Melastoma candida),…

 

Sau mười năm bảo vệ rừng từ 2002 đến 2012 ta nhận thấy nhiều loài cây gỗ đã có tái sinh ở đây như: Dẻ gai sau lá bạc (Castanopsis argyrophylla ), Dẻ gai la bé, Sồi hương (Lithocarpus sphaerocarpus), Hà nu (Ixonanthes cochinchinensis), Xoan đào (Prunus arborea), Tỳ bà rừng (Eriobotrya angustissima), Trâm vối (Syzygium cuminii), Rè vàng (Machilus velutina), Lát xoan, Xoan mộc, Muồng Tinh nữ, Lim xẹt, Vối thuốc, Súm Chè  vv......

 

+ Các loài Dây leo nhỏ bé, thưa thớt có: Móng bò chanh (Bauhinia glauca), Dây mấu (Bauhinia godefroifi), Cuồng cuồng (Aralia armata), Bạc thau (Argyreia obtusifolia),  Đùm đũm (Rubus cochinchinensis), Cẩm cang (Smilax spp), ….

 

+ Tầng Thảm tươi thường thấp và nhiều chỗ mọc dày đặc gồm: Cỏ lau (Saccharum  arundinacaeum), Cỏ Chít (Miscanthus sinensis),Chè vè (Pennisetum purpureum),  Cỏ tranh (Imperata  cylindric), Cỏ lá (Centothec  lappaceae), Cỏ đĩ (Lophantherum gracile), Cỏ sâu róm (Setaria glauca), Cỏ lông (Paspalum longifolium), Đơn buốt (Bidens pinnata), Rau má (Centella asiatica), Rau rệu (Altemanthera sessils), Bồ công anh (Lactuca indica), Tầu bay (Gynura  japonica), Ngải cứu (Artemisia vulgaris), Sa nhân (Amomum echinosphaera),Cứt lợn (Ageratum  conyzoides), Cỏ lào  (Chromalaena odorata)…

 

  Tùy theo đất tốt hay xấu mà kiểu phụ Đất chưa có rừng có các ưu hợp cây nhỏ bé ưa sáng sau:

 

  • Ưu hợp Cỏ Lau, Cỏ Chít, Đơn buốt + các loài cây bụi
  • Ưu hợp:Thao kén, ké hoa đào + Dây xấu hổ, Móc mèo, Dây Cẩm cang
  • Ưu hợp Cỏ tranh + Cây bụi rải rác
  • Ưu hợp Sim, Mua, Lấu, bồ cu vẽ +  Các loài cỏ

 

Nếu được bảo vệ tốt rất có thể đất trống có cây gỗ tái sinh sẽ phục hồi thành rừng nhưng phải có một thời gian rất dài. Mặt khác, đối với mục tiêu bảo vệ đa dạng  sinh học thì đây cũng là một trong những sinh cảnh lý tưởng của các loài chim và thú móng guốc vì chúng không thích nghi với các sinh cảnh rừng kín thường xanh.

 

3.2.2.2   RỪNG KÍN TH­ƯỜNG XANH M­ƯA ẨM Á NHIỆT ĐỚI NÚI THẤP (Ở ĐỘ CAO 1000M ĐẾN 1982M)

 

          Kiểu rừng này phân bố ở độ cao từ 1000m đến 1982m và có diện tích rộng nhất trong Khu BTTN. Địa hình nơi phân bố thường là sườn và đỉnh các núi cao trên dãy Tà Đùng trong Khu BTTN .

 

Do khí hậu mát mẻ quanh năm, nhiệt độ bình quân chỉ 15-20o C, nhiều mây, mưa nhiều2.000-2.500 mm/năm, độ ẩm cao. Đất feralit mùn tốt, tầng thảm mục dày, mùn khá cao, thoát nước tốt, mức độ rử trôi yếu hơn vùng thấp. Trong kiểu rừng này ngoài thực vật có nguồn gốc tại chỗ còn có nhiều loài cây của khu hệ TV Bắc Việt nam - Nam Trung hoa còn có nhiều loài cây có nguồn gốc á nhiệt đới khác từ Miến Điện, Hymalaya di cư tới.

 

Kiểu rừng này có diện tích lớn nhất gần 8000 ha, chiếm 38% tổng diện tích khu bảo tồn và tạo thành khối lớn, gần như có mặt trong tất cả các tiểu khu ở xung quanh dãy núi Tà Đùng. 

 

Dựa vào cây lá rộng và cây lá kim trong nhóm loài ưu thế, đồng thời căn cứ vào mức độ tác động vào rừng  ta có thế chia kiểu rừng chính này thành 3 kiểu phụ chính (Ta kí hiệu là 6,7,8) với 5 kiểu phụ nhỏ (Ta kí hiệu 6a, 6b, 6c, 7a, 8a) như sau:

 

-                     Kiểu phụ 6: “Rừng kín th­ường xanh mưa ẩm cây lá rộng á nhiệt đới núi thấp”.

 

Kiểu phụ này có 3 kiểu  phụ nhỏ :

 

  - Kiểu phụ 6a: Rừng nguyên sinh cây lá rộng á nhiệt đới núi thấp

 

 (IIIA2, IIIA3, IVA cũ).

 

- Kiểu phụ 6b: Rừng thứ sinh cây lá rộng á nhiệt đới núi thấp phục hồi sau

 

khai thác chọn thô.  (IIIA1 cũ).

 

 - Kiểu phụ 6c: Rừng thứ sinh cây lá rộng á nhiệt đới núi thấp phục hồi sau nương rãy, lửa rừng (IIA, IIB cũ)

 

 Kiểu phụ 7: “Rừng kín th­ường xanh mưa ẩm cây lá rộng xen cây lá kim á nhiệt đới núi thấp”. Rừng ở cao và chỉ bị khai thác nhẹ nên chỉ có 1 kiểu phụ nhỏ :

 

Kiểu phụ 7a: Rừng nguyên sinh cây lá rộng xen cây lá kim á nhiệt đới núi thấp (IIIA2, IIIA3, IVA cũ).

 

- Kiểu phụ 8 :“Rừng thường xanh mưa ẩm cây lá kim á nhiệt đới núi thấp”Rừng có 1 kiểu phụ nhỏ với thông ba lá là loài ưu thế là:

 

 Kiểu phụ 8a: Rừng thường xanh mưa ẩm cây lá kim á nhiệt đới núi thấp (IVA cũ).

 

Đặc điểm các kiểu rừng:

 

Rừng kín thường xanh mưa ẩm cây lá rộng á nhiệt đới núi thấp

 

(ở độ cao 1000m đến 1400m)

 

Kiểu rừng này khá rộng và tạo ra một vành đai nằm sát ngay phía trên rừng kín thường xanh  mưa ẩm nhiệt đới núi tháp và bao quanh sườn và các đỉnh cao trên dãy núi Tà Đùng. Trong kiểu rừng này có đủ các trạng thái rừng nhưng nhiều nhất là trạng thái rừng nguyên sinh ở các mức độ bị tác động nhẹ, còn rừng thứ sinh phục hồi sau nương rãy, lửa rừng, và sau khai thác có diện tích nhỏ và rất rải rác.

 

-         Kiểu phụ 6a:“ Rừng nguyên sinh cây lá rộng á nhiệt đới núi thấp”

 

(Trạng thái IIIA2, IIIA3, IVA theo phân loại của Loeschau cũ).

 

Trạng thái rừng này tạo ra vành đai liên tục, khép kín, nằm phía trên rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở độ cao 1000-1400m. (Phần cao trên 1400 và chóp các đỉnh núi cao là rừng cây lá rộng xen cây lá kim á nhiệt đói che phủ).

 

Rừng bị khai thác tỉa nhẹ hay chưa bị khai thác. về cơ bản còn giữ được kết cấu tổ thành và tầng thứ của rừng nguyên sinh ban đầu. Độ tàn che cao 0,7-0,8. Thực vật chiếm ưu thế là các loài cây lá rộng  của  họ  Dẻ  (Fagaceae),  họ  Long  não  (Lauraceae),  họ  Ngọc Lan (Magnoliaceae), họ Sau sau (Altingiaceae), Họ Đậu (Fabaceae), họ Ba mảnh vỏ (Euphorbiaceae), Họ Dâu Tằm (Moraceae), Họ Măng cụt (Clusiaceae), Họ Điều (Anacardiaceae), Họ Xoan (Meliaceae), Họ Bồ hòn (Sapindaceae)......Trong đó phải nói đến các loài cây đóng vai trò lập quần như các loài trong họ Dẻ (Castanopsis spp, Lithocarpus spp., Quercus spp.), một số loài trong họ Long não (Cinnamomum spp. Machilus spp, Phoebe spp), các loài trong họ Sau sau: Chắp tay (Simingtonia populne), Tô hạp (Altingia siamensis.) và các loài thuộc họ Ngọc lan như: Dầu gió (Manglietia blaoensis), Các loài Giổi (Michelia spp) và các loài khác như Xoan mộc (Toona microcarpa), Gội nếp (Aglaia spectabilis), Hà nu (Ixonanthes cochinchinensis), Dâu da xoan (Allospondias lakonensis), Cóc chua (Spondias pinnata),...... 

 

Các loài cây gỗ của kiểu rừng này có đường  kính tương  đối lớn, trung bình 20-25cm, chiều cao bình quân 15-20m, trữ lượng bình quân thuộc loại rừng giầu 200-300m3/ha. Những nơi đất tốt, dễ dàng gặp các cây có đường  kính lớn trên 50cm, thậm chí tới 100cm của các loài Dẻ lỗ (Lythocarpus fenestratus), Dẻ gai lá bạc (Castanopsis echinocarpa ), Re bầu (Cinnamomum bejolghota) , Giổi xương (Paramichelia baillonii),Vù hương (Cinnamomum cambodiana), Đa (Ficus spp), Hồng quang, Xoan mộc (Toona microcarpa), Trám chua (Canarium parvum), Nhọc đen (Lèo heo), Đăng …

 

Rừng có cấu trúc 4- 5 tầng:  Những nơi rừng đã bị tác động thường có 4 tầng, còn những rừng nguyên có cấu trúc 5 tầng điển hình.

 

+Tầng tán vượt (A1): Tầng này không liên tục, chỉ có rất ít cá thể của một số loài như Vù Hương (Cinnamomum balansae), Dầu nước (Dipterocarpus alatus), Giổi găng (Paramichelia baillonii), Xoan mộc (Toona microcarpa), Chò vảy (Dysoxylum hainanensis var. glaberrimum), Gội (Aglaia spectabilis)... vươn lên khỏi tán rừng. Một số lâm phần không có tầng A1.

 

+ Tầng tán giữa-Tầng ưu thế  sinh thái  (A2): Tạo  nên tán rừng tương  đối đồng đều, cao khoảng 20m với đa số cây lá rộng: các loài Dẻ gai (Castanopsis spp), các loài Sồi (Lithocarpus Spp), Sụ (Phoebe poilanei), Gội (Aphanamixis polystachya), Re bầu (Cinnamomum bejolghota), Chẹo trắng (Engelhardtia roxburghiana), Chắp tay (Symingtonia populnea), Xoan nhừ, Mít nài (Artocarpus rigidus Blumessp. Asperulus), Hồng quang… Đặc biệt là các loài Dẻ đóng vai trò lập quần rất rõ rệt ở tầng tán này. Nhiều lâm phần không rõ tầng vượt tán A1 mà chỉ có tầng tán chính A2 kiểu nhấp nhô, trong đó chủ yếu là các loài Dẻ, Re, Chò sót, Hồng quang (Rhodoleia championii), Trâm vỏ đỏ (Syzygium zeylanicum), Giổi xanh, Giổi xương (Paramichelia baillonii)… tạo thành một tán rừng liên tục, bằng phẳng trông rất hấp dẫn. Các loài cây gỗ trong tán rừng này có đường kính tương đối lớn, bình quân 25-26cm, còn nhiều cây có đường kính trên 50cm.

 

+ Tầng tán dưới (A3): có chiều cao 8-15m, gồm các loài cây tuổi nhỏ của tầng A1 và A2. ngoài ra còn chủ yếu là các cây gỗ nhỏ khác như Kháo (Phoebe lanceolata), Mò lưng bạc (Cryptocarya metcalfiana), Lạp ốc (Dalbergia lanceolaria), Bứa (Garcinia oblongifolia), Tổ kén (Casearia annamensis), Thị rừng (Diospyros sylvatica), Nhọc (Polyanthia spp.), Súm (Eurya japonica), Chân chim (Schefflera spp.),Hồi núi (Illcium griffithii), Thích (Acer spp.) và nhiều loài khác Thau lĩnh, Súm chè, Chè rừng, Trâm vối, Trâm lá nhỏ, Mắc niễng, Nhọ nồi, Nhội, Ngát, Đỏm gai, Hồng bì rừng, đôi khi ta còn gặp một vài cá thể Thông Tre, Kim Giao....

 

+Tầng cây bụi (B):

 

Tầng cây bụi thường thưa thớt gồm các loài Lấu, Cơm cháy, Mò trắng, Mò đỏ, Vọng cách Đắng cảy, Găng, Mua, Quanh châu, Cỏ lào, Cỏ lào tím, Bột ếch trơn, Bỏng nổ, Bồ cu vẽ, Mẫu đơn, Lá han, một số loài trong họ Ô rô (Acanthaceae), họ hoa môi (Lamiaceae)...

 

+Tầng thảm tươi (C):

 

Tầng thảm tươi tuy không phong phú về số lượng cá thể trong loài nhưng rất nhiều loài cây như : Riềng ấm, Sa nhân, Ráy dại, Thóc lép,...Tuế lá xẻ, các loài Dương xỉ, Thông đất, Cao Cẳng, Cỏ sậy đặc, Cỏ rác, Cỏ lá tre cao, Cỏ lau, Chít, Chè vè và rất nhiều các loài Lan Hành, Lan đất, Sa nhân, Ngọc trúc, Hoàng tinh hoa đốm, một số loài trong họ Gừng (Zingiberaceae), một số loài cây họ Ráy (Araceae)…

 

+Thực vật ngoài tầng :

 

- Các loại dây leo chủ yếu gồm: Bàm bàm, Móc hùm, Móc diều, Dây mật, Dây vỏ quạch, Dất nhung, Dây Dất na, Dất mèo (Desmos spp), các loài Bù dẻ (Uvaria spp.), Dây cao su (Cleghornia malaccensis), Dây nho rừng (Vitis sp), Dây đau xương, Dây hoàng đằng, Vàng  đắng (Coscinium fenstrantum),  Kim cang (Smilax spp.), Dây thèm bép, Ngũ gia bì, Khúc khắc, Chạc chìu, Bìm bìm, Dây máu người, Móc câu đằng...... Đáng chú ý trong tầng thảm tươi có nhiều loài cây thuốc quý nhưng số lượng ít ỏi như: Đẳng sâm, Củ bình vôi, …....

 

- Một số phong lan phụ sinh nhóm Nỉ Lan, Cầu Hành, Quế lan họ Lan (Orchidaceae), Một số Quyết phụ sinh như Tổ điểu, Cốt toái bổ, Tai chuột, hạt bí . Một số thực vật kí sinh như các loài Tầm gửi lá to, Chùm gửi TQ của họ Chùm gửi (Loranthaceae)

 

- Lác đác có từng đám Le, hay Lồ ô xen lẫn.

 

Tái sinh dưới tán rừng không nhiều, đạt từ 3.000-4.500 cây/ha. Số cây có H>1m đạt tỷ lệ cao trên 1.000 cây/ha. Thành phần tái sinh đa phần phù hợp với tầng cây mẹ. Điều đó cho thấy rừng đang ở trạng thái diễn thế ổn định.

 

Đây là kiểu rừng ít bị tác động trong khu vực. Những tác động chính của con người tới kiểu rừng này chủ yếu là săn bắn động vật hoang dã và khai thác cây thuốc, song mây. Đây là sinh cảnh ly tưởng nhất trong khu vực đối với các loài thú lớn và chim đặc hữu, là một trong những sinh cảnh cần ưu tiên bảo vệ trong công tác bảo tồn của Khu BTTN Tà Đùng.

 

Các ưu hợp thực vật chính:

 

  • Trâm , Re, Giổi, Gôi,
  • Trám, Trường sâng, Lim xẹt, Muồng xanh
  • Giổi, Sồi, Vạng trứng, Sòi rừng,
  • Re, Dẻ, Kháo, Trường sâng, Chè rừng
  • Xoan nhừ, Hồng quang, Vối thuốc, Thành ngạnh
  • Dẻ, Kháo, Chẹo, Côm, Xoan nhừ,
  • Dẻ cau, Xoan nhừ, Bản xe, Phân mã,

 

-         Kiểu phụ 6b: Rừng thứ sinh cây lá rộng á nhiệt đới núi thấp phục hồi sau khai thác chọn thô

 

 (Trạng thái IIIA1 theo phân loại của Loeschau cũ).

 

          Diện tích: Kiểu phụ này có diện tích nhỏ, khoảng 800 ha chiếm 4% tổng diện tích rừng của Khu BTTN.

 

Phân bố: Phân bố rải rác trong các tiểu khu 1767, 1794, 1801, 1812 của Khu BTTN.

 

Nguồn gốc: Được hình thành từ kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp sau khi bị khai thác chọn các loài cây có giá trị kinh tế cao, kích thước lớn.

 

Kết cấu của rừng: đã bị thay đổi đáng kể, tán rừng bị phá vỡ, độ tàn che sau khai thác còn khoảng 0,3-0,4, đến nay đã phục hồi tới 0,6-0,7. Tầng thứ  của rừng không rõ ràng sau khai thác, hiện tại đại bộ phận tầng tán rừng đã có kết cấu 1-2 tầng cây gỗ. Thực vật ưu thế phức tạp, các loài cây cho gỗ có giá trị kinh tế cao khan hiếm cây to, chỉ còn cây tái sinh và cây nhỏ hoặc cây lớn nhưng cong queo, sâu bệnh, rỗng ruột. Các loài khác còn lại phần lớn là các loài có giá trị kinh tế thấp hoặc ít  được sử dụng cho mục tiêu lấy gỗ xây duwngjcho ddiqj phương như một số loài trong họ Dẻ (Castanopsis spp, Lithocarpus spp), Xoan nhừ (Choerospondias axillris), Xoài rừng (Mangifera flava), Xoan mộc, Cóc chua, Thành ngạnh, Trường sâng, Xoan đào (Prunus arborea), dâu da xoan, Sòi rừng (Balakata baccata), Bản xe (Albizia myriophylla), Bứa lá to, bứa lá dài, bứa nhựa vàng (Garcinia spp), Tai chua (Garcinia cochinchinensis),  Chắp tay (Simingtonia populnea), Cáng Lò (Betula alnoides)…

 

Chiều cao bình quân các cây gỗ của kiểu rừng này đạt 13-17m, đường kính bình quân đạt 20-25cm, vẫn có thể gặp các cây gỗ lớn trên 50cm nhưng  đều là các loài ít được  người dân sử dụng làm gỗ. Trữ lượng bình quân các lâm phần thuộc loại trung bình đạt 100-140m3/ha.

 

Việc khai thác chọn các loài cây to cao đã tạo ra các lỗ hổng lớn trong tán rừng. Dưới những lỗ hổng này, một số loài cây ưa sáng mọc nhanh đã xuất hiện như: Vạng (Endospermum chinense), Sòi hến (Sapium baccatum), Xoan nhừ (Choerospondias axillaris), Lòng mang (Pterospermum heterophyllum), Muồng trắng (Albizzia procera), Lim xẹt (Peltophorum dasyrrhachis), Xoan mộc, Cà muối (Rhus chinensis), Đăng (Tetrameles nudiflora), Tô hạp, Hu đay (Trema orientalis)…

 

Tầng cây bụi phát triển khá, thường gặp Lấu, Quanh châu, Bồ cu vẽ, Thao kén, Mua lông, Rau bép, Bứa đất, Trọng đũa, Mua cao, Sầm sì, Găng bọt, Găng bọc, Xương gà, Cúc áo, Trâm sánh bụi, Thường sơn, Chàm mèo, ý giỏ, Thanh táo dại, Cỏ Lào , Bòn bọt, Mẫu đơn , Bồ cu vẽ, Chòi mòi đất, Bỏng nổ, Tầm xọong, ...

 

Tầng thảm tươi cũng phát triển mạnh hơn kiểu rừng nguyên sinh, các loài cây thường thấy ở đây thuộc các họ Ráng lá dừa (Blechnaceae), họ Quyển bá (Selaginellaceae), Dương xỉ gỗ (Cyathea spp.), Riềng gió, Lá  dong (Phrynium parviflorum), Sa nhân…

 

Thực vật ngoài tầng: Các loài dây leo phát triển mạnh, ở đây là các loài dây leo thuộc họ Kim cang (Smilacaceae), họ Na (Annonaceae), họ Bìm Bìm (Convolvulaceae), Họ Đậu (Fabaceae),…. Các loài Phong lan , các loài phụ sinh khác ít.

 

Tái sinh rừng tương  đối tốt, đạt  trên  5.000 cừy/ha, Cây triển vọng H> 1m chiếm 33%. Các cây tái sinh chủ yếu cùng với loài cây mẹ. Ngoài ra ở những nơi tán rừng bị phá vỡ các loài cây ưa sáng mọc nhanh đã thâm nhập vào như đã trình bày ở trên, là không đáng kể chỉ đạt dưới 10%. Như vậy, tuy đã bị tác động khá mạnh nhưng kiểu phụ này vẫn còn giữ được trạng thỏi gần gũi với kiểu nguyên sinh và nếu được quản lý bảo vệ tốt trong tương lai chắc chắn rừng sẽ trở về trạng thỏi ban đầu. Đây cũng là một trong các sinh cảnh lý tưởng cho các loài thú lớn và chim sinh sống.

 

Các ưu hợp chính

 

*Ưu hợp  Re, Dẻ, Gội, Xoan nhừ, Phân mã

 

*Ưu hợp  Gội, Trường, Hồng quang, Hà nu,  Muồng trắng

 

*Ưu hợp Giổi, Kháo, Re, Dung. Vối thuốc

 

*Ưu hợp Tô hạp, Và nước, Nhội, Phay, Gáo.

 

*Ưu hợp Trường, Gội, Sồi, Thành ngạnh,  Nang, máu chó

 

* Ưu hợp  Dẻ, Chẹo trắng, Re, kháo, Súm chè

 

Kiểu phụ 6c “ Rừng thứ sinh cây lá rộng á nhiệt đới núi thấp phục hồi sau nương rãy, lửa rừng (IIA, IIB cũ)

 

Diện tích 544,5 ha, chiếm 2,9% tổng diện tích Khu BTTN.

 

Phân bố: Trạng thái này thường phân bố rải rác ở gần làng bản hoặc chòi làm nương rẫy hay trên đất các làng bản và nương rẫy cũ đã bỏ hoang. Tập trung trong các tiểu khu 1804, 1807, 1812.

 

Nguồn gốc: Kiểu rừng này có nguồn gốc từ kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp, nhưng do quá trình làm nương rẫy và lửa rừng đã làm  mất hoàn toàn lớp phủ thực vật nguyên thuỷ của nó, nhưng đất vẫn còn tốt, mang tính chất đất rừng, khí hậu rừng và gần nguồn giống xung quanh. Đây là kiểu rừng non phục hồi lại trên đất rừng nên phát trển khá nhanh. (Thái Văn Trừng gọi là kiểu phụ thứ sinh nhân tác trên đất nguyên trạng).

 

          +Tầng cây gỗ (A): Trên đất bỏ hoang, các loai thực vật nhanh chóng xâm nhập nhưng ưu thế thuộc về các loài cây ưa sáng mọc nhanh. Các loài thường gặp là: Màng tang (Litsea cubeba), Bời lời giấy (litsea monopetala), Hu đay (Trema orientalis), Thẩu tấu, Vạng trứng, Chò sót, Sảng, Hồng quang, Thành ngạnh, Bản xe, Dạ nâu, Lá nến, Sòi núi (Sapium baccatum), Chẹo trắng, Sồi xanh (Lithocarpus pseudosundaicus), Lim xẹt, Ba soi lông, Chẹo tía, Lòng mang, Pơ lang, Trâm, Xoan nhừ (Choerospondias axillris) Nóng sổ (Saurauja tristylla), Tu hú (Callicarpa arborea), Đa thắt nghẹt (Ficus sp), Sung vè (Ficus  variegata), Bời lời nhớt (Litsea glutinosa), Kháo nước (Phoebe pallida), Lòng Trứng (Lindera racemosa), Vối thuốc (Schima superba), Chè đuôi lươn (Adinandra integerrima), Sầm (Memecylon edule), Vỏ rộp (Breyniopsis sp), Đa quả nhỏ (Ficus  pisocarpa), Cọc rào (Cleistanthus myrianthus), Màu cau (Miliusa sp), Mùng quân (Flacourtia sp), cây Áng sơn (Claaoxylon hainanensis)

 

…. Rừng có kết cấu đơn giản về tầng thứ và tổ thành loài. Rừng thường chỉ có 1 tầng cây gỗ với 3-4 loài cây ưu thế. Độ tàn che cao (0,7-0,8). Mật độ cây không đều, nơi dày nơi thưa. Các chỉ tiêu bình quân như đường kính và chiều cao phụ thuộc vào tuổi của lâm phần. Ở những lâm phần có thời gian phục hồi trên 10 năm, dưới tán rừng đã thấy xuất hiện một số loài cây của rừng cũ tái sinh như các loài Re, Giổi, Gội nếp, Dẻ, Kháo, Vù hương, Gội trắng, Trường sâng, Trường vải, Trường mật, Sến đất, Trâm tía, Trám nâu, Trám trắng, Cóc, Súm đá ,… tuy nhiên, số lượng cá thể  không nhiều.

 

+Tầng câybụi (B)

 

Cây bụi thường nhỏ và ít, chủ yếu gồm: Lấu, Cọc rào, Hoắc quang, Mua, Quanh châu, Cỏ lào, Cỏ lào tím, Bỏng nổ, bỏng nổ, thưa thớt....

 

+Tầng thảm tươi (C)

 

Tầng thảm tươi không phong phú về số lượng cá thể trong loài và rất ít loài cây, Thường gặp như: Riềng ấm, Sa nhân, Dương xỉ, Thông đất, Thạch tùng, Dương xỉ thường, Cẳng gà, Bòng bong, Thạch vĩ, Tai chuột...

 

+Thực vật ngoài tầng :

 

Các loại dây leo ít, chủ yếu gồm: Dất nhung, Dây Dất na, Dất mèo, Móc hùm, Móc diều, Cẩm cang, Khúc khắc, ...

 

          Nhìn chung kiểu phụ này đang phục hồi theo chiều hướng diễn thế hồi nguyên tương đối tốt. Đây là đối tượng cần khoanh nuôi tích cực để phục hồi rừng của KBTTN nhanh hơn.

 

Các ưu hợp thực vật chính của kiểu rừng phục hồi này gồm:

 

  • Ưu hợp Chẹo trắng, Thẩu táu, Hoắc quang, Chè đuôi lươn
  • Ưu hợp Xoan nhừ, Thành ngạnh,  Súm chè, Cà muối ,..
  • Ưu hợp Màng tang, Vối thuốc, Trâm sừng, Mé cò ke
  • Ưu hợp  Lòng Trứng, Ván xe, Cà muối, thành ngạnh
  • Ưu hợp  Xoan nhừ, Hồng quang , Trâm,

 

       

 

+ Rừng kín thư­ờng xanh mưa ẩm cây lá rộng xen cây lá kim á nhiệt đới núi thấp.

 

-         Kiểu phụ 7a “ Rừng nguyên sinh cây lá rộng xen cây lá kim á nhiệt đới núi thấp” (Trạng thái IIIA2, IIIA3, IVA theo phân loại Loeschau cũ).

 

Kiểu rừng cây lá rộng xen cây lá kim á nhiệt đói núi thấp, có diện tích rông, tạo ra vùng rừng liên tục nằm trên đỉnh các dông núi cao của dãy nui Tà Đùng và trên chóp các đỉnh cao độc lập. Nơi phân bố kiểu rừng này thường ở độ cao từ 1400m đến 1982m (đỉnh Tà Đùng), tuy nhiên ở hướng Đông của khu bảo tồn diện tích kiểu rừng này có chỗ xuống thấp hơn tới độ cao 1300m là do có khí hậu mát hơn..

 

Kiểu rừng này bị tác động ít và phần lớn chưa bị ổ chức khai thác gỗ, nên cơ bản còn có kết cấu của rừng nguyên sinh ban đầu. Độ tàn che cao 0,7-0,8, có lâm phần đạt độ tàn che 0,9. Thực vật chiếm ưu thế là các loài cây lá rộng  thuộc  các  họ  Dẻ  (Fagaceae),  họ  Long  Nóo  (Lauraceae),  họ  Ngọc Lan (Magnoliaceae), họ Sau sau (Altingiaceae), họ Chè (Theaceae), họ Đỗ Quyên (Ericaceae), họ Thích (Aceraceae)... họ Đậu (Fabaceae), họ Ba mảnh vỏ (Euphorbiaceae), Họ Dâu Tằm (Moraceae)......với các loài cây thường trong nhóm loài ưu thế như các loài: Dẻ gai lá bạc, Dẻ gai đỏ, Dẻ gai lá bé (Castanopsis spp), Sồi Lỗ, Sòi hương, Sồi bán cầu (Lithocarpus spp), Dẻ cau, Dẻ cau lá mỏng, Dẻ cau quả bẹt, Dẻ cuông (Quercus spp.), Vù hương, Re hương, Re lá chụm, Re bầu, Quế rừng (Cinnamomum spp.), Chắp tay (Simingtonia populnea), Tô hap (Altingia siamensis.) Dầu gió (Manglietia blaoensis), Giổi găng, Giổi xương (Paramichelia spp).... Đặc biệt phải kể đến một số loài cây lá kim luôn có kích thước lớn trong rừng như Thông nàng (Dacrycarpus imbricatus), Thông 3 lá (Pinus kesiya), mọc rải rác hay thành quần thụ nhỏ gần thuần loài ở trong rừng.

 

Kích thước: đường  kính trung bình 30-35cm, chiều cao bình quân 18-20m, trữ lượng bình quân 200-300m3/ha.  Có nơi >300m3/ha. Nhiều cây có đường  kính lớn trên 50cm, thậm chí trên 100cm của là các loài Dẻ lỗ (Lythocarpus fenestratus), Dẻ gai lá bạc (Castanopsis echinocarpa ), Re bầu (Cinnamomum bejolghota), Giổi xương (Paramichelia baillonii), Giổi xanh (Michelia mediocris), Vù hương (Cinnamomum balansae), Thông nàng, Thông 3 lá, Nhội, Gội…

 

Rừng chia làm 5 tầng:

 

+Tầng tán vượt hay tầng vượt tán (A1): chỉ có rất ít cá thể của một số loài Thông nàng (Dacrycarpus imbricatus), Dầu nước (Dipterocarpus alatus), Thông 3 lá (Pinus kesiya), Giổi xương (Paramichelia baillonii), Giổi lông nhung (Paramichelia braianensis), Xoan mộc (Toona microcarpa), Chò vảy (Dysoxylum hainanensis var. glaberrimum), Gội nếp (Aglaia spectabilis), Sồi Lỗ (Lythocarpus fenestratus) , Sồi lá mác (Lithocarpus braianensis), Dẻ cau... vươn lên khỏi tán rừng. Một số lâm phần không có tầng A1. Cây có đường kính lớn trên 60cm còn khá nhiều. .

 

+ Tầng tán giữa-Tầng ưu thế sinh thái (A2): Cao khoảng 20-25m, đường kính 30-32cm, với đa số cây lá rộng: Các lòa Dẻ gai (Castanopsis spp), Các loài Sồi (Lithocarpus Spp), Gội nếp (Aphanamixis polystachya), Re bâu, Re hương (Cinnamomum iners), Chẹo trắng, Xoan mọc, rường Sâng, Mò gỗ, Trường chua, Chò xót, Hồng quang (Rhodoleia championii), Trâm vỏ đỏ, Ké, Giổi xanh, Giổi găng, Giổi xương (Paramichelia baillonii), Vù hương, Côm mấn nhội, Côm hải nam, Chắp xanh, Sến đất, Dẻ gai ấn độ, Vạng trứng, Dẻ cau, Sồi hồng, Sồi lỗ, Xoan nhừ,  Hà nu, Thanh thất, Cáng lò, Trám nâu, Chò nhai, Nhọc đen lá to, Sếu rừng, Kháo Đá, Kháo cuống đỏ (Nothaphoebe baviensis), Thích lá xẻ, Cáng lò, Lòng trứng mốc (Lindera annamensis), Tô hạp, Chè Sim, Mắc niễng........ … tạo thành một tầng có độ khép tán cao.

 

+ Tầng tán dưới (A3): có chiều cao 8-15m, có đường kính 20-25cm, gồm các loài cây còn nhỏ của tầng A1 và A2. ngoài ra còn có các cây gỗ nhỏ nhỏ khác như Kháo (Phoebe lanceolata), Bứa (Garcinia oblongifolia), Ké, Nhọ nồi, Đinh,Trường vải, Thị rừng (Diospyros sylvatica), Nhọc (Polyanthia spp.), Súm (Eurya japonica), Chân chim (Schefflera spp.), Hồi núi (Illcium griffithii), Thích (Acer spp.), Nang, Quyếch, Cứt ngưa, Đái bò, Cọ Khẹt, Vàng vè, Chò nhai, Kháo vàng, Vàng Chanh, Muồng cánh dán, Thau lĩnh, Mắc niễng, Nhọ nồi, Nhội, Ngát, Trâm vối, Trâm lá nhỏ (Syzygium chunianum), Bồ đề vỏ đỏ, Bồ đề xanh đôi khi ta còn gặp mọt số cá thể Thông Tre, Kim Giao.... Các loài cây gỗ trong tầng tán A3 thường có hoa quả ít.

 

+Tầng cây bụi (B) rất thưa gồm Việt quất (Vaccinium brevipedicellatum), Bọt ếch (Glochidion hirsutum), Bồ cu vẽ (Breynia  fruticosa), Lá han tía (Laportea violacea), Gai rừng (Boehmeria nivea), Lấu (Psychotria reevesii), Găng gai (Randia sp)….. Nút áo, Quanh châu, Bỏng nổ, Thanh táo, Chàm mèo, Mẫu đơn, Lụi, Cau rừng...

 

+Tầng thảm tươi (C):

 

Tầng thảm tươi thường gặp nhiều loài nhưng ít cá thể trong loài như Tóc tiên (Liriope graminifolia), Mua đất (Melastoma cochinchinensis), Riềng ấm, Sa nhân, Ráy dại, Lá han, Dương xỉ, Cựa gà, Quyết lá dừa, Dương xỉ gỗ, Thông đất, Quyền bá, Thạch tùng, Cao Cẳng, Cỏ rác, Cỏ lá tre cao, Cỏ lau, Chít, Chè vè, Lan đất, Sa nhân, Gừng dại, Nghệ đen

 

+Thực vật ngoài tầng :

 

Các loại dây leo chủ yếu có dây Bình vôi (Stephania  glabra), Đùm đũm (Rubus cochinchinensis), Dây bướm lông (Mussaenda  frondosa), Dạ cẩm lông (Hedyotis capitellata), Chua ngút (Embelia subcoriacea), dây Đồng tiền (Stephania sinica), dây Dất (Desmos cochinchinensis), dây Mỏ quạ (Cudrania obovata), Dây Chiên chiến (Caesalpinia nuga), Dây Bạc thau (Argyreia obtusifolia), dây Móc câu đằng, (Uncaria macrophylla), dây Sống rắn (Acacia pennata), Mua lông (Melastoma tomentosas), Dây Dất, Móng bò,  Dây vỏ quạch,  Dây cao su, Dây củ mài, Dây nho rừng, Dây thèm bép, Kim cang (Smilax spp), Khúc khắc, Chạc chìu, Bìm bìm, Dây máu người, một số phong lan thuộc họ Lan (Orchidaceae), một số Tầm gửi trong họ Chùm gửi (Loranthaceae).... Nứa, Lồ ô, Cau rừng, Đùng đình (Caryota urens),

 

Tái sinh dưới tán rừng yếu, đạt từ 3.000-4.000 cây/ha. Cây triển vọng đạt trên 600 cây/ha. Thành phần tái sinh phù hợp với tầng cây mẹ.

 

Đất đai tốt, Khí hậu ôn hòa, Cây tái sinh phù hợp với cây mẹ, ít bị tác động,....là những yếu tố vô cùng thuận lợi cho rừng Á nhiệt đới cây lá rộng xen cây lá kim tồn tại và phát triển. Đây là kiểu rừng ít bị tác động nhất trong khu vực. Ngoài tác động săn bắn động vật hoang dã và khai thác cây thuốc, song mây. Sinh cảnh Rừng kín thường xanh mưa ẩm cây lá rộng xen cây lá kim á nhiệt đới núi thấp là sinh cảnh lý lý tưởng nhất trong khu vực đối với các loài thú lớn và chim đặc hữu và là sinh cảnh quan trọng nhất tạo ra cảnh quan, môi trường, chứa đựng nhiều lâm sản có giá trị kinh tế cao của khu BTTN Tà Đùng

 

Các ưu hợp thực vật chủ yếu:

 

  • Thông nàng, Giổi  Gội, Vù hương, Vắp
  • Dẻ,  Re, Xoan nhừ, Chẹo trắng, Hồng quang
  • Re, Giổi, Kháo thơm, Thích lá xẻ, Thông nàng
  • Giổi, Trâm, Trám, Sồi, Côm Thông nàng,

 

Kiểu phụ 8a:  Rừng thường xanh mưa ẩm cây lá kim á nhiệt đới núi thấp

 

(Rừng Thông ba lá thuần hay xen một số cây lá rộng).

 

        Diện tích 464,2 ha (chiếm 2,5% tổng diện tích Khu BTTN)

 

        Phân bố thành 2 dải hẹp giáp ranh với xã Đăk R’Măng ở phía Bắc và phía Nam đỉnh núi Tà Đùng. Thuộc các tiểu khu 1804, 1807, 1811, 1814....

 

        Lịch sử: Thông 3 lá hay Ngo (Pinus kesiya) gần như thuần loại gặp khá phổ biến với diện tích rộng ở Tây Nguyên như vùng Bắc Kon Tum và khu vực liền kề như Đà Lạt, Di Linh, Đam Rông thuộc tỉnh Lâm Đồng.

 

Rừng thông 3 lá ở Tà Đùng có đặc điểm khác: - phân bố trong vùng hẹp, có nhiều đám thông chỉ ở phần chóp của đỉnh núi, hay một phía của đỉnh dông núi mà không chiếm cả dông núi, có nơi khá thuần loai nhưng  nhiều chỗ xen trong rừng cây lá rộng.

 

          Ý kiến nêu ra trong dự án đầu tư phát triển Khu BTTN Tà Đùng năm 2001: “Ở đây Thông 3 lá lại xuất hiện rải rác trong kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp khiến cho chúng ta nghi ngờ về nguồn gốc của kiểu rừng này. Phải chăng, khi rừng kín thường  xanh mưa ẩm á nhiệt đới ở đây bị khai phá làm nương rẫy sau khi bỏ hoang, nhờ vào khả năng phát tán hạt giống và sự tái sinh tự nhiên tốt của loài Thông 3 lá và nhờ thời tiết trong năm có 4 tháng mùa khô nhưng không có tháng hạn và tháng kiệt mà hình thành nên kiểu rừng này? Dù là rừng nguyên sinh hay thứ sinh, rộng hay hẹp thì sự tồn tại của kiểu rừng này là một thực tế khách quan.”.

 

          Trong quá trình điều tra của chúng tôi năm 2012, Khi tiệm cận với nhóm 4 cụ già từ 67 tới 72 tuổi, dân tộc Mạ của xã Đạ K’nàng, (có 1 cụ đã là bộ đội) các cụ trao đổi đại ý : Rừng Thông ba lá hay Rừng cây lá rộng xen cây thông ba lá khi bị chặt, phát, đốt làm nương rãy hay bị lửa rừng đốt cho đến chết hết, khi phục hồi lại rừng chủ yếu cho rừng thứ sinh cây lá rộng, bởi vì các cây thông con mọc lại ít có khả năng cạnh tranh để tồn tại với nhiều loài cây lá rộng cùng sống. Theo người dân, chỉ có những năm có nhiều hạt thông bay (Được mùa) và có thời tiêt tốt, gió thổi thuận lơi, cháy rừng xảy ra nhanh, nhẹ, sau cháy lại có mưa kéo dài, những hạt thông (Thông ba lá) còn sót lại do chưa cháy hết, cùng với những hạt thông mới rơi rụng (Bay tới) sau khi cháy rừng sẽ mọc hàng loạt, nếu thuận lợi, thông sống nhiều và đât có rất ít cây lá rộng tái sinh thì có rừng nhiều thông mà rất ít cây lá rông hay có rừng thông thuần loài (thuần), còn không thuận lợi như có quá nhiều cây lá rộng cùng tái sinh chèn ép, làm thông chết nhiều sẽ có rừng hỗn giao nhiều cây lá rông.  Điều này lý giải cho việc xuất hiện các dải hay đám rừng thông ba lá tự nhiên đồng tuổi ở phía Bắc và phíá Đông Nam khu bảo tồn. Chúng tôi nhấn mạnh thêm: Loài Thông ba lá có phân bố thành quần thể nhưng sự phát triển của chúng không ổn định. Khoảng trống trong rừng và trạng thái đất trống không có cây gỗ tái sinh là điều kiện tốt cho thông ba lá phục hồi và tồn tại nhưng luôn bị các loài cây lá rộng tái sinh xâm lấn. Trong quá trình điều tra chúng tôi nhận thấy ở những mảng rừng có Thông ba lá hỗn giao với cây lá rộng, nơi những cây Thông ba lá già cỗi bị chết hay gió làm đổ gẫy, không thấy thế hệ Thông ba lá nhỏ tiếp theo thế chỗ, mà thế chỗ cây chết là các loài cây lá rông. Những khu rừng Thông ba lá thuần loài có diện tích nhỏ, nằm sát với rừng cây lá rộng cũng luôn bị cây lá rộng lấn dần dần về diện tích. Điều này có thể khẳng định, lâu dài những rừng thông ba lá ở Tà Đùng sẽ bị các loài cây lá rộng thế chỗ, Rừng Thông Ba lá ở đây phát triển không ổn định và là rừng thứ sinh phục hồi trên đất trống không có cây ở trong rừng á nhiệt đới núi thấp. 

 

        Rừng Thông có cấu trúc rất đặc trưng của rừng thưa cây lá kim, với mật độ cây vào khoảng 150-300 cây/ha. Rừng có 4 tầng: 2 tàng cây gỗ, 1 tầng cây bụi và 1tầng thảm tươi.

 

Tầng ưu thế sinh thái A2, do cây Thông 3 lá chiếm giữ, cao 30-35m, đường kính trung bình 35-47cm, có cây có đường kính trên 100cm. Tầng tán không liên tục, độ tàn che của tầng này chỉ độ 0,3-0,5.

 

Tầng tán dưới (dưới tán) A3 là các cây gỗ thông thấp, nhỏ do sinh trưởng lạc hậu hay do tái sinh sau cùng với một số cây lá rộng thường xanh như Chẹo tía (Engelhardtia chrysolepis), Chẹo Lông (Engelhardtia spicatavar. integra),  Chẹo răng cưa (Engelhardtia serrata var. cambodica), Chẹo trắng (Engelhardtia roxburghiana), Rớt (Pieris ovalifoli), Dâu rượu (Myrica esculenta), Hồng  quang (Phodoleia championii), Hóc quang (Wwndlandia thorellii), Sồi ghè, Sồi bán cầu, Dẻ gai lá bạc, Đái bò cai, Me rừng, Cọc rào, Găng gai, và các loài Vối thuốc, Chò sót mọc rải rác với kích thước nhỏ.

 

       Tầng cây bụi, thảm tươi, và thực vật ngoài tầng phát triển không đồng đều. Chỉ có tầng thảm tươi phát triển mạnh nhưng rất ít loài, Các loài đặc trưng như: loài Guột (Dicranopteris linearis), Cỏ 3 cạnh (Scleria harlandii), Cỏ tranh (Imperata cylindrica), Bòng bong, dương xỉ thường, Quyết lá dừa, quyết thân gỗ nhỏ, Seo gà, Thạch tùng, Thông đất, Quyền bá, Dây Móc mèo, Dây sống rắn, Muồng gai, Mẫu đơn đỏ, Lấu mọc dày đặc, khiến cho tình hình tái sinh dưới tán rừng này rất kém, hầu như không thấy cây Thông 3 lá tái sinh.

 

3.3   Thành phần thực vật trong Khu BTTN Tà Đùng

 

3.3.1  Thành phần và Số lượng các taxon thực

 

          Kết quả điều tra đã phát hiện và giám định được 1406 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 760 chi của 19họ, trong 6 ngành thực vật (Xem Phụ lục 1 - danh lục thực vật kèm theo). Kết quả tóm tắt danh lục thực vật rừng như­ sau:

 

Biểu 7 . Thành phần Thực vật rừng Khu BTTN Tà Đùng

 

Ngành thực vật

Số họ TV

Số chi TV

Số loài TV

Khuyết lá thông (Psilotophyta)

1

1

1

Thông đất (Lycopodiophyta)

2

3

10

Mộc tặc (Equisetophyta)

1

1

2

Dương xỉ  (Polypodiophyta)

24

72

134

Hạt trần  (Pinophyta)

4

5

8

Hạt kớn (Magnoliophyta)

158

678

1251

Tổng cộng:

190

760

1406

Trong ngành hạt kín chia ra:

Hạt kín hai lá mầm (Magnoliopsida)

135

540

1004

Hạt kín một lá mầm (Liliopsida)

23

138

247

 

           

 

Đem kết quả trên so sánh với một số vư­ờn quốc gia và khu bảo tồn trong vùng núi Miền Trung. Kết quả ghi tại biểu.

 

Biểu 8. So sánh về thực vật ở các vùng

 

Tên đơn vị

D. tích (ha)

Số loài

Loài đặc tr­ưng

VQG Vũ Quang

(Hà Tĩnh)

54.743

1.092

Táu mặt quỷ, Sao, Giổi, Trường mật

KBTTN Nam Nung

(Đăk nông)

12.307

881

Kiền Kiền, Giổi, Trâm, Tô hạp

VQG Cúc Phương

(N.Bình)

22.000

2.011

Chò xanh, Cà Lồ, Vàng Anh, Chò đai

VQG ChưMomRay

(KonTum)

56.771

1.839

Bằng lăng ổi, Dáng hương,Sến mủ

VQG Yok Đôn

115.048

854

Cà chắc, Dầu Đồng, D.Trà ben

VQG Pù Mát (Nghệ an)

91.213

1165

Táu mặt quỷ - Giổi- Sến mật

Khu BTTN Tà Đùng

21.307

1406

Vù hương, Giổi, Trâm, Tô Hạp

 

Kết quả tại biểu 8 cho thấy: So với các các nơi, thực vật ở Khu BTTN Tà Đùng  có số lượng khá phong phú về số loài cây. Các loài cây điển hình cho khu nghiên cứu như­: Vù hương, Giổi găng, Giổi xương, Sồi, Dẻ, Re, Kháo, Trường sâng, Xoan mộc, Lồ ô... luôn  đi kèm với nhau,  

 

Một điều đáng chú ý là trong thành phần thực vật Khu BTTN còn có nhiều loài cây có nguồn gốc trồng, dẫn giống từ nơi khác đến đã ổn định, đó là cây trồng để ăn quả, lấy hạt, làm rau ăn, cây cảnh và một số loài cây công nghiệp như Các loài cà phê, cao su, bời lời... có ở các bản dân trong vùng đệm của khu BTTN chưa được chúng tôi giới thiệu đầy đủ.

 

Bàn luận, một số điểm quan tâm:

 

+ Trong quá trình lập danh lục thực vật, chúng tôi vẫn dùng cách phân chia họ theo hệ thống của Takhtadjan (1973). Một số họ thực vật lớn như Họ Dương xỉ (Polypodiaceae), Họ Đậu (Fabaceae), Họ Cỏ (Poaceae), Họ hành tỏi (Liliaceae), Họ Măng cụt (Clusiaceae), Họ Mùng quân (Flocourtiaceae), .v.v..đã tách thành nhiều họ để dễ cho người sử dụng và phù hợp với hệ thống học sử dụng trong sách đỏ năm 2007 cũng như trong ND32, trong Red List và các tài liệu trích dẫn mà không gộp như cách xếp của Brummitt (1992).

 

Đã cập nhật thêm 41 họ thực vật vào danh lục TV năm 2011.

 

 Do sử dụng hệ thống phân loại của Takhtazan (1973) cho nên đã tách ra 11 họ TV từ các họ lớn và bổ xung thêm 30 họ thực vật vào danh lục mà nhũng họ thực vật này chưa có tên trong danh lục TV năm 2011. Trong quá trình điều tra, chúng tôi đã gặp các cá thể loài của các ho này trên hiện trường điều tra, đã thu được mẫu tiêu bản hay mẫu ảnh. Các họ thực vật còn lại đã có tên trong danh lục thực vật cũ điều tra năm 2001 và năm 2011.

 

Biểu 9.  Các họ TV bổ xung vào danh lục KBTTN Ta Đùng năm 2012

 

TT

Tên LT họ TV

Tên VN

TT

Tên LT họ TV

Tên VN

1

Hymenophyllaceae

Họ Quyết màng

16

Orobanchaceae

Họ Lệ dương

2

Marattiaceae

Họ Móng ngựa

17

Pandaceae

Họ Chẩn

3

Marsiliaceae

Họ Rau bợ

18

Pittosporaceae

Họ khuy áo

4

Osmundaceae

Quyết ất minh

19

Potaliaceae

Họ Lậu bình

5

Plagiogyriaceae

Quyết bình chu

20

Sabiaceae

Thanh phong

6

Cycadaceae

Họ Tuế

21

Salicaceae

Họ Liễu

7

Aizoaceae

Rau đắng đất

22

Santalaceae

Họ Đàn hương

8

Brassicaceae

Họ Cải

23

Sargentodoxaceae

Họ huyết đằng

9

Cuscutaceae

Họ Tơ hồng

24

Saururaceae

Họ Giấp cá

10

Erythropalaceae

Họ Hạ hoà

25

Schizandraceae

Họ Ngũ vị

11

Gesneriaceae

Họ tai voi

26

Styracaceae

Họ Bồ đè

12

Hydrageaceae

Họ Thường sơn

27

Costaceae

Họ Mía dò

13

Ixonanthaceae

Họ Hà nu

28

Eriocaulaceae

Cỏ dùi trống

14

Nyssaceae

Họ Hà bá

29

Pontederiaceae

Họ Lục bình

15

Opiliaceae

Họ Rau sắng

30

Stemonaceae

Họ Bách bộ

 

Đã bổ xung 470 tên la tinh loài vào danh lục thực vật năm 2011 của khu BTTN Tà Đùng (Kết quả tại phụ lục 2). Trong đó 400 tên loài cây mới ghi nhận thêm và 70 tên loài thực vật được định lại hay điều chỉnh cho phù hợp, số tên loài còn lại trùng với danh lục thực vật cũ điều tra năm 2001 và năm 2011.

 

Một số loài có mặt ở khu BTTN nhưng chưa có tên trong danh lục TV cũ như: Các loài Hoa giẻ cánh to (Desmos pendunculosus (A.DC.) Ban), Nhọc anh đào (Polyalthia ceraoides (Roxb.) Bedd.), Nhọc đen lá to (Polyalthia lauii Merr.), Bù dẻ hoa to (Uvaria grandiflora Roxb. ex Hornem), Bù dẻ hoa vàng (Uvaria hamiltonii Hook.f. et Thomson) thuộc họ Na (Annonaceae); Các loài Sữa lá bé, Lá dang chua, Dây giom, Thùng mực trung bộ thuộc họ Trúc đào (Apocynaceae); Các loài Vạn niên thanh lá sọc (Aglaonema costatum form. immaculatum(Ridl.) Nicolson), Vạn niên thanh nam (Aglaonema tenuipes Engl.), Ráy (Alocasia macrorrhiza (L.) G. Don), Ráy dại thơm (Alocasia odora (Roxb.) C.Koch), Nưa lông (Amorphophallus pillosus Hett.), Khoai nưa (Amorphophalus rivieri Dur. ex Riviere), Môn nước(Cryptosperma merkusii (Hassk.) Schott.), Thiên niên kiện (Homalomena occulta (Lour.) Schott), Môn thục (Homalonema pierreanaEngler.), Ráy Leo lá rách (Pothos. lancifolius Hook.f.), Chuối hương (Rhaphidophora decursiva (Roxb.) Schott), Bán hạ ba thuỳ (Typhonium trilobatum (L.) Schott) thuộc họ Ráy (Araceae); Các loài Ngải cứu (Artemisia vulgaris L.), Đài bi (Blumea balsamifera (L.) DC.), Cúc leo (Blumea riparia (Blume) DC.), Cỏ tai hùm (Conyza canadensis (L.) Cronq.), Cúc chỉ thiên (Elephantopus scaber L.), Rau má lá rau muống (Elephantopus sonchifolia (L.) DC.), Cỏ lào tím (Eupatorium heterophyllum DC), Rau khúc nếp (Glossogyne polycaulonPers.), Rau khúc tẻ (Gnaphalium alphine D.Don), Bông ổi (Lantana camera L.), Diệp dại, rau bao (Sonchus arvensis L), Cúc quỳ(Tithonia diversifolia (Hemsl.) A.Gray), Rau ráu (Vernonia andersonii  Clarke), Ké đầu ngựa (Xanthium strumarium L.) thuộc họ Cúc (Asteraceae), Các loài Đom đóm (Alchornea tiliaefolia (Benth.) Muell.Arg.), Chòi mòi núi (Antidesma montanum Blume),Thẩu tấu lá tròn(Aporosa aff. sphaerosperma Gagnep.), Dộ mốc, Du mốp (Baccaurea glauca Craib), Đỏm gai (Bridelia balansae Tutch), Cọc rào(Cleistanthus myrianthus (Hassk.) Kurz), Cách hoaBa đậu leo (Croton caudatus  Geisel), Ba đậu cuống i (Croton delpyi Gagnep.), Cù đèn thorel (Croton thorelii Gagnep)., Ba đậu (Croton tiglium L.), Thượng dẻ tam tầng (Epiprinus silhetianus (H. Baill.) Croiz.), Mít ma(Genonium multiflorum Juss), Lá nến thuôn (Macaranga henryi (Pax et Hoffm) Rehder), Săng bù (Macaranga kurzii (Kuntze) Pax & Hoffm.), Bui Bui (Mallotus apelta (Lour.) Muell.Arg.), Cám lợn (Mallotus barbatus Muell.Arg.), Óc tốt (Ostodes paniculata Blume), Me rừng (Phyllanthus emblica L.), Diệp hạ châu đỏ, (Phyllanthus rubescens Beille)  Thầu dầu (Ricinus communis L.), Sòi hến, Sòi qủa mọng(Sapium baccatum Roxb) thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), Các loài Chay rừng (Artocarpus aff. gomezianus wall. ex Treác.), Chay lá to (Artocarpus lakoocha Roxb. Ex Buch-Ham)., Chay lá bồ đề (Artocarpus styracifolia Pierre), Dướng Broussonetia papyrifera (L.) L' Her. ex Vent.), Dây mỏ quạ (Cudrania obovata Trencul), Vả gạo (Ficus auriculata Lour.), Đa Gáo, Bồ lầm (Ficus callosa Willd), Đa nhộng vàng (Ficus chrysocarpa Reinw), Cọ nọt lá lêch (Ficus cunia Ham), Đa si lá bóng (Ficus glaberrima Blume), Sung rừng to (Ficus harmandiiGagnep.), Ngái (Ficus hispida L.f.), Đa gân to (Ficus nervosa Heyne), Đa lông (Ficus pilosa Reinw.) Đa Sộp(Ficus pisocarpa Bl), Quả Sộp (Ficus pumila L.) et Arn), Ri rì quả lê (Ficus pyriformis Hook), Si (Ficus retusa L)..thuộc họ Dâu tằm (Moraceae); Các loài Móng trâu lá to (Họ Móng ngựa), Tổ điểu nhỏ, Thiết giáp lá gươm (Họ Tổ điểu), Dương xỉ vảy (Họ Dương xỉ vảy), Tai chuột bắc, Tai chuột trụi (họ Tổ điểu); Rau dớn to, Rau Dớn (Họ Quyết gỗ); Sơn xã (Họ Sến); Cóc đá (Họ Trám), Thị và Hồng ăn quả (Họ Thị), Côm lá to (Họ Côm), Xoan đào tía, Dây Kim anh, Tỳ bà rừng (Họ Hoa Hồng); Dung Đen, Dung trắng (Họ Dung); Chè đuôi lươn, Sum lông (Adinandra integerrimaT.Anders.ex Dyer in Hook.), Luống xương (Anneslea fragrans Wall.), Trà hoa cam (Camellia furfuracea (Merr.) Cohen-Stuard), Trà cànhbạc (Camellia nervosa (Gagnep.) Chang.), Chè vidali (Camellia vidalii Rosmann), Sum nhọn (Eurya acuminata DC.), Súm chè (Eurya ciliata Merr.), Chè đuôi lươn lông, Súm chè nhẵn (Eurya japonica Thunb. ), Chè lá ròn (Eurya trichocarpa Korth), Gò đồng hoa to(Gordonia gigantiflora Gagnep.). Vối thuốc răng (Schima superba Gaertn et Champ.) (Họ Chè); Rau má ngọ (Họ Rau răm), và nhiều loài khác nữa …..đã làm cho số loài thực vật tăng thêm. Riêng các loai chưa định được tên (sp) chúng tôi không đưa vào để chờ các giám định bổ xung và thay đổi của các nhà nghiên cứu tiếp theo.

 

+ Hai loài cây cần chú ý là loài Thông lá dẹp và Thông đà lạt chỉ xuất hiện trong danh lục thực vật năm 2001, sau đó được ghi nhận lại vào danh lục năm 2011 nhưng trong thực tế diều tra năm 2011 các tác gia đi điều tra cũng không gặp loài này. Trong đợt điều tra năm 2012 cũng không phát hiện các loài này ở Tà Đùng; Mặt khác trong tất cả các tài liệu về thực vật  của Việt Nam dều không ghi nhận có hai loài này ở Tà Đùng, cho nên trong danh lục 2012, chúng tôi đề nghị bỏ tên hai loài này ra khỏi danh lục thực vật ở Tà Đùng.

 

Trong quá trình làm danh lục, việc cập nhật thông tin, nhất là tên quốc tế của cây còn có nhiều bất cập do nhiều nguồn thông tin, hoặc không đầy đủ theo các tài liệu mới vì chúng tôi sử dụng hệ thống học của Takhtazan 1973, nên còn những trùng lặp. Vì phải giám định nhanh trong hòan cảnh mẫu không có đầy đủ hoa, quả, hạt, thiếu mẫu chuẩn,do biến dổi vùng sinh thái phát sinh nên nhất định không tránh khỏi những sai sót, mong được bổ xung sửa chữa của những người quan tâm tiếp sau.

 

 

 

3.3.2. Sự đa dạng Họ thực vật

 

Trong tổng số 1406 loài TV của 190 họ thực vật, có 10 họ thực vật có số loài lớn nhất là:

 

Biểu 10. Mười  họ thực vật có số loài lớn nhất

 

TT

Tên họ thực vật

Số Loài

Tỷ lệ% so với  số cây của 10 họ

Tỷ lệ% so với số cây toàn rừng

1

Họ ô rô (Acathaceae)

29

5.788423

2.062589

2

Họ Re (Lauraceae)

30

5.988024

2.133713

3

Ho Na (Annonaceae)

31

6.187625

2.204836

4

Họ Dâu tằm (Moraceae)

38

7.58483

2.702703

5

Họ ba mảnh vỏ (Euphorbiaceae)

45

8.982036

3.200569

6

Họ Cúc (Asteraceae)

61

12.17565

4.338549

7

Họ Cà phê ( Rubiaceae)

63

12.57485

4.480797

8

Họ Cỏ (Poaceae)

64

12.77445

4.551920

9

Họ đậu (Fabaceae)

67

13.37325

4.765292

10

Họ  Lan (Orchidaceae)

73

14.57086

5.192034

 

Toàn bộ rừng  có

1406  loài

Mười họ 501 loài

100

35.633

           

 

Tổng số loài của 10 họ TV lớn nhất có 501 loài chiếm tỷ lệ 35,63% so với tổng số loài của KBT. Theo tác giả Tolmachop A.L (1974) : “ở vùng nhiệt đới, thành phần thực vật đa dạng thể hiện ở chỗ là rất ít họ chiếm tới 10% tổng số loài của hệ thực vật và tổng tỷ lệ% của 10 họ giàu loài nhất chỉ đạt 40 - 50% tổng số loài của cả hệ thực vật”. Khu hệ thực vật khu nghiên cứu nếu 10 họ có số loài nhiều nhất chiếm tỷ lệ < 40%-50% so với tổng số loài đièu tra được đánh giá là đa dạng, còn trên 50% là không đa dạng về họ.

 

Dựa theo cách đánh giá trên ta thấy tỷ lệ phần trăm của 10 họ giầu loài nhất chiếm 35,63% nhỏ hơn mức 40 - 50% do Tolmachop A.L (1974)  nêu ra chứng tỏ Khu BTTN Tà Đùng cứu có sự đa dạng về họ thực vật tuy nhiên mức độ đa dạng không cao vì tỷ lệ này cao sát với giới hạn nêu ra.

 

 

 

3.3.3. Sự đa dạng chi thực vật

 

Xét sự đa dạng các chi thực vật ta cũng chọn ra 10 chi có số lượng loài lớn nhất. Kết quả được ở biểu 11.

 

 Biểu 11. Mười chi có số loài lớn nhất của khu nghiên cứu

 

TT

Tên chi thực vật

SỐ LOÀI

TỶ LỆ%SO VỚI 10 CHI

TL. % SO VỚI TOÀN RỪNG

1

Litsea (Lauraceae)

8

6.666667

0.56899

2

Castanopsis (Fagaceae)

9

7.500000

0.640114

3

Vernonia (Asteraceae)

9

7.500000

0.640114

4

Crotalaria (Fbaceae)

10

8.333333

0.711238

5

Blumea (Asteraceae)

10

8.333333

0.711238

6

Dendrobium (Orchidaeace)

10

8.333333

0.711238

7

Ardisia (Myrsinaceae)

11

9.166667

0.782361

8

Desmodium (Fabacaae)

12

10.000000

0.853485

9

Bulbophyllum (Orchidaeace)

13

10.833330

0.924609

10

Ficus (Moraceae)

28

23.333330

1.991465

 

Tổng số loài của Khu vực:  1406

Cộng: 120

100

8.534851

 

Mười chi lớn nhất có 120 loài, chiếm tỷ lệ 8,534% số loài của Khu vực, điều này khẳng định 10 chi này chưa phải là đại diện ưu thế cho các chi trong khu điều tra. Theo cách đánh giá do Tolmachop A.L (1974) nêu ra, chứng tỏ KBTTN Tà Đùng có sự đa dạng về các chi thực vật.

 

 

 

3.3.4. Sự đa dạng loài thực vật trong khu nghiên cứu

 

Xét đa dạng loài thực vật ta cũng chọn ngẫu nhiên ra 5 ô tiêu chuẩn sô 1 (OTC1/T1; OTC1/T2; OTC1/T3; OTC1/T4; OTC1/T5) để tính số lượng cá thể lớn nhất  được điều tra.  Với tổng số cây điều tra là 637 cây của 95 loài.  Số cây bình quân của 1 loài là 6,7. !0 loài có số lượng cá thể điều tra lớn nhất là :

 

 Biểu 12. 10 loài cây có số cá thể  lớn nhất của khu nghiên cứu

 

TT

Tên loài thực vật

SỐ CÁ THỂ CỦA LOÀI

% SO VỚI SỐ CÂY ĐIỀU TRA

% SO VỚI SỐ CÂY TRONG 10 CHI

1

Côm tầng

18

1.921025

6.792453

2

Áng sơn

20

2.134472

7.54717

3

Sồi hương

20

2.134472

7.54717

4

Trọng đũa gỗ

25

2.66809

9.433962

5

Bản xe nhiều lá

28

2.98826

10.56604

6

Dẻ gai lá bé

29

3.094984

10.9434

7

Dẻ gai bac la

29

3.094984

10.9434

8

Kháo tầng

29

3.094984

10.9434

9

chò xót

30

3.201708

11.32075

10

Bứa

37

3.948773

13.96226

 

Tổng Số cá thể điều tra  937, số loài 95

Tổng Số cá thể của 10 loài lớn nhất: 265

28.28175

100

 

Mười loài lớn nhất có tổng số cá thể là 265, chiếm tỷ lệ 28,28% trong tổng số 937 cá thể đã điều tra trong 5 OTC của khu vực, điều này khẳng định 10 loài này chưa phải là đại diện ưu thế cho tất cả các loài đã điều tra. Theo cách đánh giá do Tolmachop A.L (1974)  nêu ra, chứng tỏ KBT có sự đa dạng về các loài  thực vật.

 

 

 

Tóm lại: Theo cách so sánh đánh giá do Tolmachop A.L nêu ra năm 1974, Khu BTTN Tà Đùng có sự đa dạng về họ, về chi và loài thực vật.

 

         

 

3.3.5. Một số nhận xét về Xuất xứ thực vật

 

Kết quả bảng danh lục thực vật (phụ lục 1) cho thấy:

 

+ Có nhiều họ thực vật điển hình cho khu hệ thực vật nhiệt đới có mặt: Họ Dầu (Dipterocarpaceae), Họ Dâu tằm (Moraceae), Họ Ba mảnh vỏ (Euphorbiaceae), Họ Cà phê (Rubiaceae), Họ Đậu (Fabaceae), Họ Vang (Caesalpiniaceae), Họ Cơm vàng (Proteaceae), Họ Xoan (Meliaceae), Họ Ráy (Arecaceae), Họ Lan (Orchidaceae)...

 

Các loài điển hình cho thực vật nhiệt đới như: Dầu nước, Dầu Hasel, Dầu Trà ben, Sao xanh, Sao Đen,  Hương, Trắc, Câm lai, Lim xẹt, Ràng rang, Bằng Lăng, Mạ sưa, Muồng, Đa, Sanh, Mít rừng, Sui, Dâu da, Mât s­ạ, Ráy dại, Củ nưa, Phong lan......

 

+ Nhiều họ thực vật điển hình có nguồn gốc từ hệ thực vật á nhiệt đới, từ Hymalaya, Hoa Nam, Quý Châu di xuống, định c­ư ở đây nh­ư các họ: Họ Re (Lauraceae), Trúc đào (Apocynaceae), Đỗ quyên (Ericaceae), Chè (Theaceae), Họ Ngọc lan (Magnoniaceae), Họ Hồ đào (Juglandaceae), Họ Dẻ (Fagaceae), Họ Thích (Aceraceae),  Họ Cáng lò (Betulaceae)... các loài điển hình như­: Dẻ gai, Dẻ cau, Sồi hồng, Sồi bán cầu, Vù hương (Xá xị), Re hương, Rè vàng, Kháo, Tô hạp, Giổi găng, Giổi bà, Giổi xanh, Giỏi Xương, Thích lá xẻ, Chắp tay, Đỗ quyên, Súm đá, Chè rừng.....

 

+ Có nhiều họ thực vật có phân bố rộng ở nhiệt đới và á nhiệt đới nh­ư các họ: Cỏ (Poaceae), Cúc (Asteraceae), Đậu (Fabaceae), Vang (Caesalpiniaceae), Trinh nữ (Mimosaceae), Khoai lang (Covolvulaceae), Nhân sâm (Araliaceae), Cau (Arecaceae), Chè (Theaceae), Tre (Bambusoideae) ...

 

+ Có nhiều họ thực vật có phân bố ở vùng á nhiệt đới núi vừa và cao bắc bán cầu có trong khu vực mà đại diện là các loài: Thông tre, Kim giao (Podocaroaceae), Súm đá, Súm chè, chè đuôi lươn... (Theaceae), Dây gắm, Rau bép (Gretaceae), Thích lá xẻ, thích lá quế (Aceraceae), Giổi lá bạc, Giổi găng, Giổi Xanh, Giổi Xương (Magnoliaceae)....

 

+ Yếu tố nhập nội dẫn giống chủ yếu với các đại diện chính như các loài Keo lá tràm, Keo tai tượng, Xà cừ, Bạch đàn trắng, Phượng vĩ, Lim xẹt, Trứng gà, Hồng xiêm, Cao su, Cà phê, Bời lời đỏ, Cà ri... chỉ có ở vùng đêm. (chưa đưa vào danh lục)…

 

Hệ Thực vật trong khu nghiên cứu có mối quan hệ chặt chẽ với thực vật các vùng địa lý lân cận nên nguồn gốc xuất xứ thực vật cũng không khác nhiều so với thực vật của vùng Lâm Đồng, Đăk Lắc và các huyện khác trong tỉnh Đăk Nông.

 

- Một số loài thực vật có nguồn gốc dẫn giống để trồng trong vùng đệm, chúng tôi chưa đưa vào danh lục thực vật của vườn như biểu 13.

 

 Biểu 13. Thực vật (trồng) không có tên trong danh lục khu vực

 

TT

Họ TV

Tên VN

Tên la tinh

Nguồn

1

Annonaceae

Na

Annona squamosa L.

TR

2

Annonaceae

H.Móng rồng

Artabotrys vinhensis Ast

TR

3

Apocynaceae

Hoa sứ

Adenitum obestan Roem

TR

4

Arecaceae

Dừa

Cocos nucifera

TR

5

Apocynaceae

Đại trắng

Plumeria rubra L. var. acutifolia (Poir) Baily

TR

6

Apocynaceae

Đại đỏ

Sunipia andersonii (King & Plantl.) Hunt

TR

7

Araliaceae

Đinh lăng

Nothopanax fruticosum (L.)Miq.

TR

8

Araucariaceae

Bách tán

Araucaria excelsa R. Br.

TR

9

Asclepiadaceae

Thiên lý

Telosma cordata (Brum. f.)Merr.

TR

10

Bombacaceae

Gòn

Ceiba pentandra Gaertn.

TR

11

Bombacaceae

Sầu riêng

Durio zibethinus Murr.

TR

12

Caesalpiniaceae

Móng bò tím

Bauhinia purpurea L.

TR

13

Caesalpiniaceae

Ph­ượng vĩ

Delonix regia Rafin

TR

TT

Họ TV

Tên VN

Tên la tinh

Nguồn

14

Caesalpiniaceae

Kim phượng

Senna  sp

TR

15

Casuarinaceae

Phi lao

Casuarina equisetfolia L. ex Forst.

TR

16

Combretaceae

Bàng

Terminalia cattapa L.

TR

17

Cupressaceae

Tùng mốc

Cupressus lusitanica Mill.

TR

18

Cupressaceae

Tùng xà

Juniperus chinensis L.

TR

18

Cupressaceae

Tùng vảy

Juniperus squamata Buch. - Ham.

TR

20

Cupressaceae

Trác bách diệp

Platycladus orientalis (L.) Franco

TR

21

Cycadaceae

Vạn tuế*

Cycas revoluta Thumb

TR

22

Cycadaceae

Tuế lược 

Cycas pectinata Buch.-Ham

TR

23

Cycadaceae

Thiên tuế

Cycas siamensis Miq.

TR

24

Rosaceae

Hồng hoa

Rosa sp

TR

25

Euphorbiaceae

Tai tượng đỏ

Acalypha welkesiana Muel-Arg

TR

26

Euphorbiaceae

Đuôi lươn

Codiaum variegatum L.

TR

27

Euphorbiaceae

Cô tông

Codiaum variegatum var pictum

TR

28

Euphorbiaceae

Cao su

Hevera brasiliensis Muell-Arg

TR

29

Euphorbiaceae

Xương khô

Euphorbia tirucallii L.

TR

30

Euphorbiaceae

Thuốc dấu

Euphorbia tithymaloides

TR

31

Euphorbiaceae

Đơn đỏ

Excoecaria bicolor Hassk

TR

32

Euphorbiaceae

Vông đồng

Hura crepitans L

TR

33

Euphorbiaceae

Sắn, mỳ

Manihot  esculanta Crantz

TR

34

Lamiaceae

Húng chó,

Ocimum aff. basilicum L

TR

35

Lamiaceae

Kinh giới lá xẻ

Schizonepeta tenuifolia Briq

TR

36

Lauraceae

Long não

Cinnamomum camphora (L.) Presl.

TR

37

Lythraceae

Tử vi

Lagestroemia indica L.

TR

38

Malvaceae

Dâm bụt

Hibiscus rosa-sinensis L

TR

39

Malvaceae

Dâm bụt kép

Hibiscus syriacus L

TR

40

Malvaceae

Bông chua

Hibiscus sabadariffa L.

TR

41

Meliaceae

Ngâu

Aglaia duperreana Pierre

TR

42

Meliaceae

Xà cừ

Khaya senegalensis A. Juss

TR

43

Moraceae

Mít tố nữ

Artocarpus heterophyllus Lam

TR

44

Moraceae

Đa búp đỏ

Ficus elastica Roxb.

TR

45

Nyctaginaceae

Hoa giấy trắng

Bougainvillea glabra choisy

TR

46

Nyctaginaceae

Hoa giấy

Bougainvillea spectabilis Willd

TR

47

Nymphaeaceae

Ngâu nhỏ

Aglaia sinensis

TR

48

Ochnaceae

Mai tứ quí

Ochna atropurpurea DC.

TR

49

Oleaceae

Hoa nhài

Jasminum sambac (Linn) Ait

TR

50

Oleaceae

Cây mộc

Osmanthus fragrans (Thunb.) Lour..

TR

51

Podocarpaceae

Tùng la hán

Podocarpus sp

TR

TT

Họ TV

Tên VN

Tên la tinh

Nguồn

52

Rutaceae

Chanh, cam

Citrus sp

TR

53

Rosaceae

Persica vulgaris Will.

TR

54

Rosaceae

Mận

Prunus salicina Lindl.

TR

55

Rubiaceae

Đơn đỏ lá hẹp

Ixora  stricta Roxb.

TR

56

Rubiaceae

Bông trang

Ixora  finlaysoniana Wall. ex G.Don.

TR

57

Rutaceae

Hồng bì

Clausena lansium skeels

TR

58

Rutaceae

Phật thủ

Citrus medica var sarcodatylis

TR

59

Rutaceae

Nguyệt quế

Murruya paniculata (L.) Jack.

TR

60

Rutaceae

Quất

Citrofortunella microcarpa (Bunge) Wijnands

TR

61

Salicaceae

Liễu rủ

Salix babilonica var lavallei Dode

TR

62

Sapotaceae

Trứng gà

Pouteria zapota (Jacq.) Moore et Stearn

TR

63

Sapotaceae

Vú sữa

Chrysophyllum cainito L.

TR

64

Sapotaceae

Hồng xiêm

Achras sapota L

TR

65

Sapotaceae

Vú sữa

Cainto chrysophyllum

TR

66

Sapindaceae

Vải thiều

Litchi  chinensis Radlk

TR

67

Solanaceae

Thuốc lá

Nicotiana tabacum L

TR

68

Solanaceae

Cà vú dê

Solanum manmosum L

TR

69

Solanaceae

Ơt

Capsicum minimum Roxtb

TR

70

Solanaceae

Cà chua

Lycopersicum esculentum Mill

TR

71

Solanaceae

Thuốc lá

Nicotiana tabacum L

TR

72

Taxodiaceae

Cây sa mộc

Cunninghamia lanceolata (Lamb) Hook

TR

73

Theaceae

Trà mi đỏ

Camellia japonia Var1

TR

74

Verbenaceae

Tếch

Tectona grandis L.

TR

75

Moraceae

Dâu Tằm

Morus alba L.

TR

76

Fabaceae

Đậu đũa

Pisum sativum L. subsp. sativum var. macrocarpon Ser.

TR

77

Fabaceae

Đậu cô ve

Phaseolus vulgaris L.

TR

78

Fabaceae

Đậu den

Vigna unguiculata (L.) Walp. subsp. unguiculata

TR

79

Fabaceae

Đậu lạc

Arachis hypogaea L.

TR

80

Fabaceae

Đậu tương

Glycine max (L.) Merr.

TR

81

Fabaceae

Đậu xanh

Vigna radiata (L.) R. Wilczek var. radiata

TR

82

Brassicaceae

Bắp cải

Brassica oleracea L.

TR

83

Lamiaceae

Bạc hà

Mentha arvensis L

TR

84

Cucurbitaceae

Bầu

Lagenaria siceraria (Molina) Standl.

TR

85

Cucurbitaceae

Bí đỏ

Cucurbita pepo L. 

TR

86

Cucurbitaceae

Bí đao

Benincasa hispida (Thunb.) Cogn

TR

87

Lamiaceae

Rau húng

Mentha aquatica L.

TR

88

Solanaceae

Cà chua

Lycopersicon esculentum Mill.

TR

TT

Họ TV

Tên VN

Tên la tinh

Nguồn

89

Solanaceae

Cà pháo

Solanum undatum Jacq. non Lam.

TR

90

Brassicaceae

Cải canh

Brassica juncea (L.) Czern. & Coss

TR

91

Brassicaceae

Cải củ

Raphanus sativus L.

TR

92

Fabaceae

Củ đậu

Pachyrhizus erosus (L.) Urb.

TR

93

Dioscoreaceae

Củ từ

Dioscorea esculenta Burk

TR

94

Cucurbitaceae

Su su      

 Sechium edule (Jacq.) Sw.

TR

95

Asteraceae

Sà lách     

 Lactuca sativa L.

TR

96

Cucurbitaceae

Dưa chuột

Cucumis sativus L.

TR

97

Cucurbitaceae

Dưa gang

Cucumis melo L.

TR

98

Cannaceae

Dong giềng

Canna edulis Ker.

TR

99

Zingiberaceae

Gừng

Zingiber officinale Rosc.

TR

100

Liliaceae

Hành

Allium cepa L.

TR

101

Scrophulariaceae

Húng chó

Ocimum basilicum L

TR

102

Fabaceae

Lạc

Arachis hypogaea L.

TR

103

Poaceae

Lúa

Oryza sativa L.

TR

104

Convolvulaceae

Khoai lang

Ipomoea batatas (L.) Lam

TR

105

Apiaceae

Mùi tàu

Eryngium foetidum L

TR

106

Brassicaceae

Cải xoong

Nasturtium officinale R. Br.

TR

107

Cucurbitaceae

Mướp

Luffa cylindrica (L.) Roem

TR

108

Poaceae

Ngô

Zea mays L.

TR

109

Convolvulaceae

Rau muống

Ipomoea aquatica Forssk.

TR

110

Lamiaceae

Thơm, Tía tô

Hyptis suaveolens (L.) Poit

TR

111

Amarantaceae

Rau rền

Amaranthus viridis L.

TR

112

Zingiberaceae

Riềng

Alpinia galanga (L.) Sw.

TR

113

Fabaceae

Sắn dây

Pueraria montana (Lour.) Merr. var. thomsonii (Benth.) Wiersema ex D.B. Ward

TR

114

Euphorbiaceae

Sắn tầu

Manihot esculenta Crantz

TR

115

Brassicaceae

Su hào

Brassica oleracea L.

TR

116

Liliaceae

Tỏi

Allium sativum  L.  

TR

117

Pedaliaceae

Vừng

Sesamum indicum L.

TR

118

Poaceae

Xả

Cymbopogon citratus (DC.) Stapf

TR

119

Cucurbitaceae

Mướp đắng

Momordica charantia L

TR

120

Dioscoreaceae

Khoai rái

Dioscorea bulbifera L.

TR

121

Dioscoreaceae

Củ từ

Dioscorea esculenta Burk

TR

122

Apiaceae

Rau cần

Oenanthe javanica (Blume) DC.

TR

123

Basellaceae

Mồng tơi

Basella rubra L.

TR

124

………….

     
           

 

Còn lại 1406 loài cây có ở rừng của Khu BTTN, xem ở danh lục thực vật 

 

 

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 16 Tháng 1 2017 09:33
 

Thông báo

Cơ cấu tổ chức
Thứ tư, 20 Tháng 8 2008

Hình ảnh hoạt động

Video hoạt động



Get the Flash Player to see this player.

time2online Joomla Extensions: Simple Video Flash Player Module

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay6
mod_vvisit_counterLượt đã truy cập9795

Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng
Chịu trách nhiệm về nội dung: ......
Điện thoại: ........
Trang đang hoạt động thử nghiệm